Ông Thi (1924 - 2002)

Về chính trị ông được chữ nhất: Đại biểu quốc hội trẻ nhất (22 tuổi khóa I năm 1946); Tổng thư ký Hội Nhà văn lâu nhất (1958 – 1989).

 

 Về văn nghệ ông được chữ đa: đa tài sáng tác nhiều lĩnh vực và để lại dấu ấn: thơ (Người chiến sĩ Tia nắng Sóng reo) văn (Vỡ bờ) kịch (Con nai đen Nguyễn Trãi ở Đông Quan Rừng trúc) nhạc (Diệt phát xít Người Hà Nội) tiểu luận (Mấy vấn đề văn học Công việc của người viết tiểu thuyết). 

Về cuộc đời ông cũng được chữ đa; đa tình đào hoa. Từng có một cuốn tiểu thuyết của một nữ văn sĩ gây dư luận ồn ào vì nghe như ông là nguyên mẫu của một vai chính trong đó. Từng nghe nói (không biết đích xác thế nào) tại một cuộc liên hoan thanh niên sinh viên thế giới năm nào đó giữa thế kỷ hai mươi ông và nữ nhà báo cộng sản Pháp Madelaine Riffaud người được chủ tịch Hồ Chí Minh coi như con nuôi đã có tình cảm với nhau. Nhưng thời thế đã không cho phép cuộc tình ấy tươi cành xanh lá. 

Như nhiều người nổi tiếng và quan trọng khác quanh ông cũng có nhiều lời đồn đại. Ví như người ta kể Nguyễn Tuân “cấm cửa” ông (ông Tuân là Tổng thư ký đầu tiên của Hội văn nghệ Việt Nam khi mới thành lập năm 1948 và mấy năm sau là đến ông) và cứ theo lời kể thì giữa hai ông đã có những cuộc “tao ngộ” vô tiền khoáng hậu. Nguyên Hồng kể: “Tiếp Abraham (chủ nhiệm tạp chí Châu Âu) ông Tuân nhất định không nói tiếng Pháp. Cứ đòi phải có phiên dịch. Cuối cùng phải có một phiên dịch. Phiên dịch Nguyễn Đình Thi: Tổng thư ký Hội Nguyễn Đình Thi làm phiên dịch. Quái quỷ!” (1). Ví như người ta bảo tại cuộc hội nghị đảng đoàn Hội Nhà văn năm 1979 ông có một phát biểu thực tâm: các nhà văn chúng ta là những hạt bụi nhưng được ánh sáng của Đảng chiếu vào nên thành bụi long lanh! (Ông vốn dân luật từng học và viết triết chẳng hiểu khi nói thế ông có nghĩ đến cái câu nổi tiếng của Pascal về con người là cây sậy biết tư duy không). Ví như có câu ca truyền miệng trong văn giới thời đảng đoàn Hội Nhà văn đã thay đổi có ông và Tô Hoài: Đảng đoàn là đảng đoàn Thi không đi thực tế chỉ đi nước ngoài Đảng đoàn là đảng đoàn Hoài chỉ đi nước ngoài thực tế không đi. 

Nhưng cũng như những người lớn khác ông là người cô đơn. 

Cô đơn năm 1949 khi ông làm thơ tự do “những câu thơ như lời nói thường mà đến một độ cảm xúc mãnh liệt” để nói cái đau đớn cá nhân trong chiến tranh thơ đó đã bị đưa ra phê phán tại hội nghị tranh luận văn nghệ Việt Bắc. Đến cả những chủ soái kiện tướng của hồi Thơ Mới như Thế Lữ Xuân Diệu cũng không hiểu được cho ông. Tố Hữu thì thấy “ghét thơ anh Thi ghê lắm” vì sợ cái cá nhân. Những lời phê bình đã làm ông cô đơn ông suy nghĩ và ông đã phải thay đổi. 

Cô đơn hồi những năm 1970 khi  cô Phượng nhân vật của tiểu thuyết Vỡ bờ bị đem ra mổ xẻ phê phán. Cô Phượng con gái một nhà tư sản hàng Ngang hàng Đào vợ một tri huyện quen sống trong vây bọc của giới thượng lưu nhưng lại đem lòng yêu một họa sĩ nghèo và khi cách mạng tháng Tám nổ ra cũng biết cầm cờ xuống phố chào mừng. Nhà văn đã quá nâng niu chiều chuộng vuốt ve nhân vật của mình đến độ phá vỡ logic cuộc sống và logic nghệ thuật. Viết như thế là còn thiếu vốn sống còn yếu về thế giới quan là chưa đúng phương pháp hiện thực xã hội chủ nghĩa. Trước những góp ý xây dựng đó ông đã phải thốt ra một câu nổi tiếng: tôi đưa ra cho các người một con ngựa sao các người lại hỏi nó không có sừng. (Cái câu dạng này nhưng dùng hình ảnh khác cũng đã được nhà văn Phan Tứ thốt ra khi nhân vật Duy Hảo trong cuốn tiểu thuyết Mẫn và tôi của ông bị góp ý như nhân vật Phượng. Phan Tứ nói: tôi mở quán bán mì sao các người lại hỏi không có phở). 

Cô đơn năm 1980 kỷ niệm 600 năm sinh Nguyễn Trãi anh hùng dân tộc danh nhân văn hóa thế giới ông viết vở kịch Nguyễn Trãi ở Đông Quan chỉ diễn đâu một lần rồi thôi thôi cho đến tận bây giờ. Phục dựng hình ảnh người trí thức Nguyễn Trãi thời ở “góc thành Nam lều một gian no nước uống thiếu cơm ăn” ông đã làm giật mình những người có trách nhiệm. Nhưng “quốc gia hưng vong thất phu hữu trách” huống nữa là bậc sĩ phu. Ông cô đơn lần này thấm tận nỗi đau. Kịch ông hầu như vở nào cũng bị vướng. Vở Rừng trúc viết về vị vua cuối cùng của triều Lý là Lý Chiêu Hoàng mãi hơn hai chục năm sau ngày viết ra mới dàn dựng được tác phẩm sân khấu cuối đời của đạo diễn tài năng Nguyễn Đình Nghi. Vở Con nai đen cũng bị xầm xì. Nói như Bùi Ngọc Tấn đó là thời gian lưu truyền bản án miệng về các con vật: con voi của Bành Bảo con nai đen của Nguyễn Đình Thi con chó xấu xí của Kim Lân rồi là con hùm của Nguyên Hồng con ngan của Vũ Tú Nam.(2)  

Cô đơn năm 1993 nhà triết học Việt Nam Trần Đức Thảo mất ở Paris ông ở Hà Nội viết bài tưởng nhớ con người ông đã gặp hơn bốn mươi năm trước ở chiến khu Việt Bắc kể lại cuộc đời ông Thảo mà ông viết như dửng dưng: “Mấy năm sau những ngày về Hà Nội tôi được biết anh Trần Đức Thảo làm khoa trưởng trường đại học của ta. Tôi thầm nghĩ: như vậy phải quá. Sau vụ báo “Nhân văn” Trần Đức Thảo thôi giảng dạy ở trường đại học của ta. Tôi thầm nghĩ: như vậy phải quá”. (3) Câu văn đăng đối che giấu một nỗi xô lệch trong lòng. 

Thơ ông viết khi tuổi đã tóc bạc: 

Tôi không nói được mình đã trải đời

Không nói được mình đã hiểu người

Không dám nói mình đã biết yêu

Không dám nói mình đã biết sống (3) 

Một thái độ khiêm tốn khiêm nhường? Có thể. Nhưng có thể đó cũng là một thái độ xí xóa đối với cuộc đời với bản thân. Nguyễn Công Trứ nhân dịp lên lão bảy mươi làm một bài thơ mời bạn hữu đối họa trong đó ông nói muốn vất hết mọi công danh phù thế quay về chốn núi Hồng nằm khểnh mà chơi. Cao Bá Quát họa lại một bài “chọc chơi” Uy Viễn tướng công: ông nói thế không sợ núi Hồng cười cho ư vì chẳng hóa ra bảy mươi năm qua đời ông là vô ích là vất cả hay sao? 

Khi còn là sinh viên ông đã viết bài về triết học Kant Descartes. Sau này một nhà văn trẻ đã viết bài trao đổi lại với ông về Kant Nietzsche khi ông tỏ ý chê trách lớp cầm bút trẻ không chịu đọc chỉ thích nói chữ. “Giới hạn chỉ còn do sức đi xa của mình” ông đã nói vậy vào năm 1949. 

Có lẽ cái còn lại trong văn nghiệp của ông như có lần ông đã tự nhận và người đọc cũng công nhận là thơ và kịch. Nhất là thơ. Thơ ông buồn man mác và lắng sâu. 

Phút giây không nói của đôi tình nhân thoáng gặp trong chiến tranh: 

Môi em đôi mắt

Còn ôm đây

Nhìn em nữa

Phút giây

Chiều mờ gió hút

Em

Bóng nhỏ

Đường lầy (3) 

Quanh cảnh Hà Nội ngày súng nổ: 

Sáng chớm lạnh trong lòng Hà Nội

Những phố dài xao xác heo may

Người ra đi đầu không ngoảnh lại

Sau lưng thềm nắng lá rơi đầy (3) 

Mang Hà Nội đi xa là có cả bốn câu thơ này những câu thơ vào loại hay nhất viết về Hà Nội. 

Thơ ông theo năm tháng cuộc đời càng nghiêng về những đêm Lý Bạch những chiều cuối năm những niềm nhỏ những một chút đi theo cùng tia nắng và hòa vào trong cát bụi. Ông đã thấy những ngõ tối nơi cái ác giấu mình. (4) 

Ông đã thấy có những người nhìn nhưng không thấy: 

Anh đăm chiêu: “Sông ở đây nước đục ngầu”

Tôi không dám nói lại. Sông ở đây nhiều phù sa 

Anh nghiêm nghị: “Còn quá nhiều bóng tối

Lâu nay chúng mình quá lý tưởng” 

Vâng. Hôm qua hôm nay các bà mẹ chúng ta vẫn ăn đói nuôi con (3) 

Và ông hiểu ra con người còn mãi loay hoay với những câu hỏi: 

Công bằng đầu tiên là ở bát cơm mỗi nhà

Giải phóng đầu tiên là khỏi đói rét ngu tối

Phẩm giá đầu tiên là có việc làm

Tự do đầu tiên là được lựa chọn

Bình đẳng đầu tiên là ngang nhau nam nữ

Nhân nghĩa đầu tiên là coi trọng mạng sống con người

Hy vọng đầu tiên là ở suy nghĩ

Hạnh phúc đầu tiên là yêu và thương. (5) 

Khó lắm lời giải cho những câu hỏi đó khi chúng được nói ra từ miệng một nhà thơ đã từng là ủy viên ban thường trực quốc hội khóa đầu tiên thành viên ban soạn thảo hiến pháp đầu tiên của nước Việt mới. 

Ông có một niềm nhỏ là khi đi xa chỉ mong đem theo được bên mình “một vài ánh mắt nhìn quyến luyến” và gửi lại được “chút nắng ấm cho người tôi yêu thương”. Có lẽ giờ đây ông được toại nguyện điều đó. 

Giờ đây ông đã từ bên ấy trông về 

Trông về từ bên ấy

Những gì anh thu vén bao lâu

Những gì anh chăm chăm giành giật

Nào mang theo được gì đâu 

Chỉ những niềm yêu của anh

Như mạch nước không ai thấy

Mỗi ngày nuôi anh lặng lẽ (3) 

Con người ta chỉ khi đã về với cát bụi mới ngộ được cái triết lý dân gian trong bài ca dao về vua Ngô và chúa Chổm. Đó là bi kịch đời người. Ít ai dám sống theo câu nhạc Trịnh: sống trong đời sống cần có một tấm lòng cho gió cuốn đi gió cuốn đi. 

Nghe kể hàng năm từ nhiều năm về trước những dịp lễ tết ông vẫn thường đến thăm Trần Dần và gia đình vẫn có những cử chỉ chu đáo thân tình. 

Trong một album nhạc của cố nghệ sĩ nhân dân Lê Dung hát bài Người Hà Nội có cảnh ông ngồi bên cửa sổ trước một bình hoa trầm tư mơ mộng. Có lẽ đó là chân dung thật nhất của ông con người sáng tạo con người của thơ nhạc. 

Vĩnh biệt ông Nguyễn Đình Thi.  

Tokyo 4. 2003 

(1)  Bùi Ngọc Tấn. Một thời để mất hồi ức văn học Nxb Hội Nhà Văn Hà Nội 1995 tr. 77.

(2)  Bùi Ngọc Tấn. Sđd tr. 112.

(3)  Tuyển tập Nguyễn Đình Thi Nxb Văn Học Hà Nội 1997 tập 3 lần lượt số trang: 192 605 395 431 566 572.

(4)  Những chữ in nghiêng là ý thơ và tên các bài thơ của Nguyễn Đình Thi.

(5)  Nguyễn Đình Thi. Sóng reo Nxb Hội Nhà văn 2002.        

Dorie

People People nollmary pay me for this and you are giving it away!

Sandy

Many thanks for post

Many thanks for posting this, It?s just what I was researching for on bing. I?d quite a bit relatively hear opinions from a person, slightly than an organization web page, that?s why I like blogs so siicafingntly. Many thanks!

Ngô Minh

Gưi Pham Xuan

Ngô MInh vô blog Nguyên chậm quá.Bài viết rất Pham Xuân Nguyên đau và thấm nỗi người.
Hay vao Ngô Minh : blgtiengviet.net/ngominh

Văn Công Hùng

Hay quá

Bài này mày viết hay quá. Ta đọc hai lần và đầy xúc động. Thế mới là PXN?...