Du ký như một thể tài

(Nhân đọc “Du ký Việt Nam” tuyển tập các bài trên tạp chí Nam Phong Nguyễn Hữu Sơn biên soạn và giới thiệu Nxb Trẻ 2007)

1. Thể tài du ký có thể bao gồm một phạm vi rất rộng. Duy danh mà nói thì du ký là tất cả những ghi chép khi đi đến một nơi nào đó. Đi rồi Viết. Thế thì trong văn học trung đại loại thơ đi sứ có thể coi là những tác phẩm du ký tiêu biểu. Mà chẳng cứ gì đi sứ các nhà nho-ông quan ngày xưa mỗi lần lai kinh ứng thí hay đáo nhậm quan nơi nào là đều có thơ về cảnh sắc dọc đường mình đi và ở nơi mình đến. Thơ vịnh cảnh ở ngoài nơi chốn mình sống của các nho gia đó cũng là du ký. Đọc thơ Hồ Xuân Hương thì rõ là thơ du ký bước chân bà đến đâu là có thơ ghi lại đến đó.

 

Trong tiếng Anh tên gọi “travel literature” là để chỉ những cái viết lấy cảm hứng từ sự thích đi từ những cuộc hành hương những chuyến công cán sự vụ từ những cuộc thám hiểm địa lý hay tìm kiếm lợi nhuận ở các vùng đất khác đất mới. Và như thế thì hầu như ở mọi thời và mọi nền văn hóa đều có du ký vì ngay từ thời xưa phương tiện giao thông khó khăn nhưng con người cũng đã phải di chuyển đi đây đi đó vì nhiều lý do. Du ký là thể tài trung gian giữa thực và hư tự truyện và dân tộc học nó kết hợp nhiều bộ môn hàn lâm nhiều phạm trù văn học và nhiều mã xã hội. Nó cũng nêu lên nhiều vấn đề liên quan đến quyền lực và sự tu thân đến sự biểu hiện văn hóa cũng như sự tưởng tượng. Tóm lại Đi và Thấy cảnh và người sự và việc rồi Viết ra cảnh ấy người ấy sự ấy việc ấy kèm theo nghĩ suy cảm xúc của mình có khi còn là phân tích khảo cứu ấy là du ký.

 

Ở phương Tây những tác phẩm du ký đầu tiên là những ghi chép từ những cuộc thám hiểm các vùng đất mới. Khi một thế giới mới mở ra và những giống loài quý những sản vật hiếm được mang về từ những miền xa thì cơn khát hiểu biết về các cuộc phiêu lưu của những người thám hiểm nổi lên. Làn sóng du ký đầu tiên ở thế kỷ sau Columbus chứa đầy những chuyện kể anh hùng về các cuộc thập tự chinh các cuộc chính phục và các cuộc hành hương. Nhưng khi tính xác thực của các chuyện đó bị hoài nghi và giá trị đối với triết học tự nhiên của những hiện tượng mới phát hiện được coi trọng thì một loại viết du ký khác nổi lên. Loại viết này bao gồm các “ghi chép thực tế” và những “chuyện kể xác thực” và thường do các nhà lịch sử tự nhiên và triết học tự nhiên thực hiện. Và như vậy ở phương Tây các tác phẩm du ký nhanh chóng trở thành một nguồn tri thức quan trọng trong triết học tự nhiên.

Trên thế giới người ta cũng phân du ký ra làm mấy kiểu chủ yếu căn cứ vào chủ thể viết. Kiểu những người lãng du và kiếm sống bằng những bài viết về các chuyến đi. Kiểu đi chỉ là cái cớ để viết những bài bàn về quốc gia dân tộc như trường hợp nhà văn được giải Nobel V. S. Naipaul. Kiểu của các nhà tự nhiên học như Charles Darwin du ký nhưng là sự phân tích tự nhiên dưới góc độ khoa học. Kiểu các nhà văn đi rồi viết như John Steinbeck. Nhưng lưu ý là các tác phẩm hoàn toàn hư cấu như Odyssey của Homer Thần khúc của Dante Những chuyến du hành của Gulliver của Jonathan Swift ở châu Âu cũng được coi là du ký.

2. Du ký như đã nói là cái Viết của sự Đi. Xưa kia mặc dù có câu ca dao truyền miệng “Đi cho biết đó biết đây Ở nhà với mẹ biết ngày nào khôn” nhưng người dân quê ngại xê dịch ngại thay đổi ngại ngăn núi cách sông lại nữa là thiếu thốn phương tiện di chuyển đi lại. Cuối thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX nước ta bị cuốn vào vòng quay của thế giới hiện đại con người bị thúc bách phải đi và dần thấy có nhu cầu đi đi rồi thì lại thấy thúc bách phải viết ra những điều mình mắt thấy tai nghe cho người trong nước đọc. Trước là để chia sẻ cái nhận biết cái cảm giác cảm xúc của cá nhân. Sau nữa là để hối thúc mọi người hãy mạnh dạn đi đến những chốn lạ những miền xa thử đặt mình vào hoàn cảnh địa dư khác từ đó mà năng động mình hơn có hiểu biết mới hơn dám nghĩ dám làm hơn yêu đất nước xứ sở mình hơn. Ông chủ bút Nam Phong chắc đã có cái sở nguyện ấy nên mới mở ra đề mục du ký trên tờ tạp chí của mình để đăng tải các cái viết thuộc dạng này. Và ông đã được đáp ứng. Nhiều bài viết gửi đến. Nhiều người viết ý thức rõ cái mình viết nên tên bài thường có kèm theo các chữ “ký” “du ký” “du đàm” “thuật chuyện”. Bây giờ lật giở lại 62 tác phẩm được coi là du ký đã đăng ở Nam Phong suốt 17 năm tồn tại của nó ta thử xem mấy điều.

Thứ nhất là không gian đi. Các tác giả du ký đã mở rộng tầm mắt cho độc giả bằng những cuộc đi rộng khắp đất nước và dài ra cả ngoài nước. Vào Nam kỳ đến Huế ra Phú Quốc rồi nào là Hải Dương Bắc Ninh Tuyên Quang Cao Bằng Nghệ Tĩnh... Non sông một dải chữ S. lâu nay bị cách biệt trong tầm nhìn nơi này không biết nơi kia người trong một nước mà không rõ địa dư từng vùng nay đọc các bài du ký trên Nam Phong như được đưa chân đến tận những nơi chưa biết để thấy để nghe những điều lạ lẫm mới mẻ. Lạ lẫm mới mẻ hơn nữa là những người viết du ký còn dẫn đưa người đọc sang Lào đến Hương Cảng Nhật Bản Trung Quốc tới tận nước Pháp. Cả một trời đất mới mở ra trước mắt người đọc khiến thích thú và giật mình.

Thứ hai là thời gian đi. Có những cuộc chỉ là đi ngắn một đêm vài ngày đến một nơi cụ thể như là « Đêm tháng sáu chơi hồ Hoàn Gươm » hay « Trẩy chùa Hương ». Lại có những cuộc đi dài mười ngày («Mười ngày ở Huế») một tháng («Một tháng ở Nam Kỳ») hoặc hơn. Thời gian ngắn dài của những cuộc đi quy định tính chất bài viết. Có những bài chỉ mô tả sự việc kể chuyện chơi như là một thứ ghi chép chuyến đi. Có những bài đi sâu trình bày phân tích như là một thiên khảo cứu khoa học. Nhưng dù thời gian thế nào các bài du ký ở đây đều thuộc loại du ký du lịch chứ không phải du ký thám hiểm.

Thứ ba là thành phần người đi. Có người nho học có người tây học; có người là viên chức giáo chức có người là nhà báo nhà văn nhà khảo cứu. Có người đi vì sự vụ công vụ có người đi chỉ vì ý thích cá nhân đi chơi thôi. Do đó mà cái viết cũng đậm nhạt khác nhau sâu nông khác nhau tùy những sở đắc kiến văn của mỗi người khi đến một nơi nào đó.

3. Phạm Quỳnh hẳn nhiên là một tác giả nổi bật và chủ chốt trong loại văn du ký trên Nam Phong. Tôi nói hẳn nhiên không phải chỉ vì ông là chủ bút là người có ý thức khơi nguồn viết này (cũng như các nguồn viết khác). Hẳn nhiên là vì Phạm Quỳnh đã đi nhiều viết nhiều (trong 62 bài tuyển ở đây ông có gần mười bài trong đó có những bài rất đặc sắc in được thành sách riêng) và điều này quan trọng nhất ông viết du ký theo đúng như yêu cầu và đặc điểm của thể tài này. Chỉ một chuyến trẩy chùa Hương thôi nhưng ông không chỉ đi và kể mà còn luận và bàn. Bàn về tính cách tín ngưỡng của người Việt. Bàn về tương quan giữa đạo Phật và đạo Nho ở nước ta. Luận về cái cách đi lễ chùa chiền của người dân: «Các đám đông ở nước mình thật là không có kỷ luật không có trật tự gì cả rất tạp đạp rất hỗn độn dầu ở nới lễ bái kính trọng cũng kẻ đi người lại kẻ đứng người ngồi nói nói cười cười kêu kêu gọi gọi ồn ào lộn xộn khó mà nghiệm cho được cái tâm lý của những người ngẫu hợp lại đó ». Nói thế là từ bài du ký ông đã nêu lên một nét tâm lý phổ biến của người Việt rồi.

Phạm Quỳnh viết du ký có chủ đích có phương pháp hẳn hoi. Đó là «tường thuật những sự tư tưởng cảm giác» là «kể những sự kinh lịch kiến văn » không phải làm văn không muốn « khoe với ai cái văn chương xốc nổi » mà chỉ muốn «đem lời thành thực mà giãi bày bàn bạc cùng quốc dân hoặc trong lòng nhiệt thành có người cảm lời bàn ngay có kẻ nghe ấy là mãn nguyện vậy ». Trong cùng một năm 1919 ông đến Huế mười ngày sau đó vào Nam Kỳ một tháng. Từ hai nơi về ông đều có hai bài viết công phu kỹ lưỡng. Nhưng ông phân biệt tính cách hai cuộc du lịch khác nhau. Ở Huế là «đi vãn cảnh một nơi đất cũ còn đầy những dấu tích đời xưa mỗi bước như động đến tấm lòng hoài cổ chạnh những nông nổi cố hương». Ở Nam Kỳ là «một nơi đất mới mới đủ đường: địa chất lịch sử văn hóa đều là mới cả; người ta đương hăm hở về đường tiến thủ muốn bước cho chóng lên cho mau chưa từng bận lòng đến những nỗi thương cũ tiếc xưa phiền xa buồn muộn». Do hai chuyến đi khác nhau như thế nên «lời kỹ thuật tất cũng không in một giọng đó là một lẽ tự nhiên không lấy gì làm lạ» (II 146 - 147). Lại nữa khi đi chơi Lạng Sơn Cao Bằng về trong bài viết ông lại có dịp trình bày quan niệm của mình. Thứ nhất không cứ phải đi Tây đi Tàu mới gọi là đi «du lịch » rồi về viết «du ký» mà đi trong nước nơi gần nơi xa cũng về viết được. Thứ hai viết du ký nhà văn thường có lắm khóe khôn ngoan đi ít nhưng viết ra nhiều là do lấy sách vở bù vào nhưng ông không làm vậy. Phạm Quỳnh phân biệt văn du ký và văn khảo cứu: «Văn kỷ sự không phải là văn khảo cứu nhà văn càng phải nên phân biệt lắm. Văn kỷ sự là cứ sự thực mà thuật lại cốt lấy tự nhiên giản dị ngoài sự thực có thể điểm chút cảm tưởng riêng cũng là do sự thực mà phát ra càng có cái vẻ thật thà mới mẻ lại càng hay bất tất phải bàng sư bác tập điển cố xa xôi làm gì. Văn khảo cứu thời là cóp nhặt các sách vở so sánh các tài liệu tra tìm phải cho rộng dẫn chứng phải cho nhiều chứng cứ càng nhiều khảo sát càng kỹ lại càng có giá trị ; đó là việc của nhà bác học không phải việc của kẻ đi chơi (tôi nhấn mạnh câu này - PXN). Đương kể chuyện đi chơi mà phút chốc lên mặt ông giáo đăng đàn giảng học dạy cho một hồi về địa dư lịch sử thời đối với người nghe chuyện không khỏi mang tiếng « vô duyên » vậy. Nghĩ thế nên bao nhiêu sách tây sách nho soạn ra để kê cứu đều xếp lại cả quyết định chỉ làm một bài thuần kỷ thuật sự đi chơi không để cho dính cái hôi hám chốn thư viện mà muốn cho nhiễm cái khí vị miền thượng du » (II 489).

Và viết du ký cũng như ở mọi bài viết thuộc các thể tài khác của mình Phạm Quỳnh đều nghĩ tới sự tiến bộ phát triển của dân của nước. Kết thúc «Một tháng ở Nam Kỳ»  ông viết : « Tôi càng đi du lịch trong Nam Kỳ lại càng thấy cái cảm giác rõ ràng rằng người Nam người Bắc thật là con một nhà nếu biết đồng tâm hiệp lực thì cái tiền đồ của nước Nam ta không thể nào hạn lượng cho được. Tôi xin đốt lửa thắp hương mà cầu nguyện cho cái mối đồng tâm ấy ngày một bền chặt thật là may cho nước nhà lắm lắm ». Kết thúc «Chơi Lạng Sơn Cao Bằng» ông cũng nặng lòng với trách nhiệm của nhà văn ở đời là người gióng lên tiếng kêu cho mọi người nghe thấy đồng điệu mà đồng tình đồng thanh mà đồng cảm « nhân đó mà nhà văn cùng với các bạn đọc văn thường có một cái cảm tình riêng đi ra ngoài mới viết nhiều khi cũng đằm thắm mà sâu xa vậy» (II 505). Tinh thần tự hào trước vẻ đẹp non sông đất nước cùng với khát vọng thức tỉnh thúc giục đồng bào trong nước tiến lên cho bằng người thấy ở Phạm Quỳnh cũng là tinh thần chung của các tác giả viết du ký trên Nam Phong. Văn du ký của Phạm Quỳnh vừa tỉ mỉ vừa sâu sắc. Đọc ông càng thấy kinh ngạc trước sức đi sức viết và sức nghĩ của một con người tưởng chỉ là « tiên sinh kính trắng » ngồi ở phòng giấy.

4. Đóng góp của Phạm Quỳnh và các tác giả viết du ký trên Nam Phong không chỉ là kiến thức và tư liệu mà còn là một lối viết văn theo hướng hiện đại cố gắng gãy gọn khúc triết và trong sáng để cải cách dần lối từ chương khoa cử của văn chương cũ. Về mặt đóng góp cho tiếng Việt và cho văn chương Việt bằng chữ quốc ngữ thì thể du ký đã phát huy tác dụng tích cực và có ảnh hưởng lớn. Bởi vì văn du ký là kể sự tả việc là thống kê phân tích là suy luận diễn dịch. Cảm xúc của người viết được diễn tả cũng phải bám theo sự theo việc tuân theo logic của thực tế những cái mắt thấy tai nghe. Lấy thí dụ như tác phẩm Hạn mạn du ký của Nguyễn Bá Trác. Đây là chuyện kể về hành trình đi ra thế giới từ trong nước sang Băng Cốc đến Hương Cảng qua Nhật Bản về Trung Quốc. Nguyên văn bằng chữ Hán tác giả tự dịch ra quốc ngữ. Tác phẩm gần hai trăm trang sách này cố nhiên vẫn có những đoạn văn bóng bẩy biền ngẫu là điều không tránh khỏi nhưng đó chỉ là rơi rớt của lối từ chương cũ còn như cái chính quan trọng là ở những chỗ mô tả trình bày về xã hội các nước mà tác giả đã đi qua. Văn đó đọc đến bây giờ vẫn mới vẫn cập nhật.

5. Bộ du ký Việt Nam trên tạp chí Nam Phong là một kho tư liệu quý một chứng tích của thời gian. Chỉ mới non một thế kỷ nhưng do chiến tranh thiên tai và nhân tai trên đất nước ta nhiều di tích thắng cảnh đã bị phai mòn đổ vỡ tàn lụi nhiều phong tục tập quán đã bị biến đổi biến dạng nay nhờ đọc lại những trang sách này người đọc còn thấy lại được còn biết là có biết nó khi xưa khi trước thế nào. Đọc để còn ngấm giọng văn kể văn tả văn cảm của thời đó để nhận vào mình những suy tư gửi gắm của người viết. Đây là một bộ sách giá trị một công tích thực hiện của người biên soạn và nhà xuất bản. Ngoài giá trị tự thân nó còn góp phần quan trọng cho việc đánh giá lại vai trò của Phạm Quỳnh và Nam Phong đối với tiến trình văn hóa xã hội Việt Nam đầu thế kỷ XX nhất là năm nay đúng dịp 90 năm ra đời tờ tạp chí này. Bộ sách cần nên được tiếp tục sang các tác phẩm du ký đã in trên các báo chí khác. 

Hà Nội 23.3.2007      

Đào Tiến Thi

Một tuyển tập văn chương - khảo cứu giá trị

Cảm ơn anh Phạm Xuân Nguyên có bài giới thiệu và phân tích hay về Một tuyển tập văn chương - khảo cứu giá trị. Thật khâm phục ngày xưa các cụ đi đâu cũng ghi chép tỉ mỉ, bình luận khúc chiết. Tư cách của ông quan hay người trí  thức đều khác xa bây giờ.