Hữu Loan - cây gỗ vuông màu tím

 

Hữu Loan năm 1995. (Ảnh: Nguyễn Đình Toán).


1. Ông là một nhà thơ đích thực của nền thơ hiện đại Việt Nam. Đích thực bởi thơ. Chỉ bằng hai bài Màu tím hoa simĐèo Cả Hữu Loan đã ghi danh mình cho thơ Việt ở sự riêng tư và mới mẻ. Màu tím hoa sim là tiếng khóc của một người chồng cho người vợ xấu số là một tiếng kêu cho tình yêu trong thời đạn lửa là lời phẫn uất trước số mệnh phũ phàng của con người. Nhưng không chết / người trai khói lửa / Mà chết / người gái nhỏ hậu phương / Tôi về / không gặp nàng / Má tôi ngồi bên mộ con đầy bóng tối / Chiếc bình hoa ngày cưới / thành bình hương / tàn lạnh vây quanh. Tiếng thơ ấy đã lập tức đồng vọng và lan xa trong lòng bao người dẫu ở một thời chiến tranh bắt con người phải nén nỗi đau riêng vùi chôn tâm trạng cá nhân để ra trận và cầm súng bởi vì đó là tiếng thổn thức thắt nghẹn của con tim. Đèo Cả hào hùng hào sảng tinh thần của một thế hệ dấn thân cho vận nước trong hình ảnh những chiến binh như trượng phu ngang tàng giữa núi rừng chấp mọi hiểm nguy đùa cùng gian nan.

Sau mỗi lần thắng
Những người trấn Đèo Cả
Về bên suối đánh cờ
Người hái cam rừng
......................... ăn nheo mắt
Người vá áo
................thiếu kim
........................... mài sắt
Người đập mảnh chai
............................vểnh cằm
........................................ cạo râu
Suối mang bóng người
..............................soi
..................................những
..........................................về đâu?

Hai bài thơ khắc ghi dấu ấn rất riêng của Hữu Loan vào một thời thơ. Thơ chứ không phải cái gì khác đã làm nên Hữu Loan đã vinh danh ông. Và ông xứng đáng được vinh danh bằng thơ đó. Những nhát thơ Hữu Loan đục vào thời gian đục vào tâm khảm để lại dấu tích không phai.

2. Ông đã sống một cuộc đời dài thật dài mà những khổ nạn thử thách chỉ càng làm bền thêm trong ông những lựa chọn ban đầu khi làm cách mạng và làm thơ. Bỏ phố thị thủ đô về lại quê hương tự tay vỡ đất vỡ đá lầm lụi tháng ngày nuôi vợ con nuôi mình chống chọi với cuộc sống thiếu thốn vất vả và nhiều chướng ngại nhưng ông không nề hà nản chí. Hữu Loan là một con người cương cường. Ai đã một lần gặp ông nhìn ngắm khuôn mặt ông nhất là đôi mắt và nghe giọng ông nói đều có thể cảm nhận đây là một con người không chịu gục ngã trước thử thách. Trời đã cho ông sức khỏe và ý chí để thọ cao đến vậy sau bao khổ nhọc chồng chất. Nhưng tôi tin trời đã thương ông nên đã ban Thơ cho ông để ông sống được là mình như vậy. Ông tự gọi mình là cây gỗ vuông: Tôi cây gỗ vuông chành chạnh suốt đời/ Đã làm thất bại âm mưu/ đẽo tròn/ để muốn tùy tiện/ lăn long lóc/ thế nào/ thì lăn lóc. Chân lý đấy/ hỡi/ rìu/ bào/ phó mộc. Nhà ông trên bàn thờ chỉ để một chữ Tâm.

3. Tôi đã thấy chữ Tâm đó mỗi lần bước vào nhà ông ở một vùng quê xứ Thanh. Lần gần đây nhất là trước tết dương lịch 2010 mấy ngày. Khi ấy ông đã yếu nhiều giọng đã thều thào nhưng cũng như bao lần có khách đến thăm yêu cầu ông vẫn cất giọng đọc thơ. Đọc hai bài Màu tím hoa simHoa lúa. Một bài cho người vợ đầu xấu số mất sớm khiến ông đau xót khôn nguôi hơn sáu mươi năm qua. Một bài cho người vợ sau gắn bó hơn nửa đời người cùng ông trải bao hoạn nạn đắng cay sinh cho ông mười người con giữ cho ông tinh thần phải sống. Giọng ông lúc khỏe nghe rõ ràng khúc triết sai một chữ một từ là ông sửa lại ngay. Lúc yếu giọng nghe không rõ nhưng vẫn thấy tỏa ra trong giọng đọc đó tình cảm sâu nặng sắt son của ông dành cho hai người phụ nữ đã làm nên đời ông - đời một con người và đời một nhà thơ. Nói đến thơ nhắc lại những năm tháng làm văn nghệ ông vẫn cương trực với mình trong cách nhìn nhận sự việc vẫn trung thành với một quan niệm thơ quan niệm sống đã có từ đầu và từ lâu. Ông như không bận tâm đến việc ra một tập thơ riêng của mình khi mà tập thơ đó nếu ra không đầy đủ không vẹn con người ông. Nhưng thơ ông đã nằm lòng bao nhiêu độc giả hàng chục năm qua. Không chỉ là một hai bài đã nổi tiếng mà còn những bài khác được truyền tụng. Như bài Tình thủ đô mới được nhà thơ Dương Tường và nhà văn Mạc Lân khôi phục lại mấy năm trước. Như bài "Hữu Loan khóc Nguyễn Sơn" năm 1956: Một đám tang đã diễu hành/ Một đám tang cờ đỏ liệm quan tài/ Nấc lên mầu huyết/ Một đám tang đi/ Không/ bao/ giờ/ tới/ huyệt.

4. Nhà thơ Hữu Loan đã qua đời ở tuổi 95. Thơ Hữu Loan ở lại với người đời. Thơ đó "có niềm khát khao cháy bỏng cho một đất nước được tự do cho dân tộc được giải phóng khỏi ách đô hộ. Cái sức sống mạnh mẽ trong mỗi tác phẩm thi ca là ở chỗ phải ghi được dấu ấn trong một thời khắc đặc biệt" như ông đã nói và đã làm được. Từ thơ có thêm một màu là màu tím Hữu Loan. Cây gỗ vuông màu tím - đó chính là chân dung Hữu Loan đời và thơ.


Sài Gòn 19.3.2010

(Đăng báo Tuổi Trẻ 20/3/2010)



Hữu Loan cuối năm 2009. (Ảnh: PXN).


Hai bài thơ của Hữu Loan

Thánh mẫu hài đồng


Nhà thơ Hữu Loan suốt đời mình luôn khắc ghi hình bóng người vợ đầu. Sau bài thơ Màu tím hoa sim bốn mươi hai năm ông lại làm bài thơ này hồi tưởng lại đêm tân hôn đầu tiên của mình. Bài thơ vẫn đúng chất hồn và giọng điệu Hữu Loan đầy ắp cảm giác cảm xúc đôi lứa tình yêu. Đây còn được gọi là bài Tục Màu tím hoa sim
.

Em ngả cánh tay còn nhiều

ngấn sữa

Cho ta làm gối gối đầu

    đêm tân hôn

Sao lại không chính là tay ta

đỡ trước lấy vai nàng

Ta râu ria như râu thép gai

như xương chổi

Gân guốc sù xì phong sương

như một gốc cây rừng

Ta lo lắng sợ tay nàng gãy

Tay nàng mảnh mai như một

nhánh huệ trong bình!

Nhưng lạ thay

nàng ghì đầu ta như

chẳng hề hấn chuyện gì!

Chỉ có chuyện là

      ta thấy ta càng lúc

càng thêm nhỏ bé trong

vào ngực măng tơ

Chà dụi

Rúc tìm

Tham lam

      Cuống quýt

   Ngẩn ngơ

như một hài nhi

    khát

mẹ

Nàng càng riết chặt

ta càng thấy bé

Vòng tay nàng đánh đai

Nàng thì thào thổn thức

     bên tai

- Anh của em!

- Anh vô cùng lớn của em!

Nhưng trái lại

Anh đang rất bé.

Nàng:

- Anh ơi anh!

Ta:

- Mẹ ơi mẹ!

Bằng một giọng học nói

Hài nhi bập bẹ

(trong hơi thở trộn nhau

       bốc men)

- Tôi đối thoại hay là

vô thức nói.

*

*           *

Sau đêm ấy là

em đi

đi

    mãi!

Em đi tím đất chiều hoang

Ta như mất mẹ khóc

tang

hai

lần!

*

*            *

Xin kính cẩn hôn chân

Tất cả những đấng gái Việt Nam

Đã sớm mang chất

mẹ

loài

người.

*

*              *

Em trong mẹ

Mẹ trong em

em

ngôi

thánh mẫu

       hài đồng

1991

TÒNG QUÂN


(Nhà thơ Dương Tường nhớ và ghi lại bài này)

                  

Nếu anh ra đi

Mẹ già anh khóc

Trai thời loạn ly

Thương con khó nhọc


Nếu anh ra đi

Người vị hôn thê

Những giọt nước mắt

Đọng trên hàng mi


Nhưng

Nếu anh không đi

Mẹ già anh khóc

Trai thời loạn ly

Mà con không đi


Mẹ thà thương con tóc trắng

Ngày mai cờ về chiến thắng

Mà con không về


Mẹ thà như lá rụng chiều quê

Đến khi con về

Cỏ vàng nấm đất


Nhưng khi nước mất

Vì vị hôn thê

Mà con không đi


Nếu anh không đi

Người vị hôn thê

Mặt nghiêng tay che

Đêm thương lời thề

Thà đợi người đi

Già trên lời thề


Nhưng khi nước mất

Mà anh không đi...

          Khoảng 1947

Jetson

You mean I don't hav

You mean I don't have to pay for expert advice like this anmryoe?!

Teige

: oui, une touche di

: oui, une touche différente dans le raz-de-marée !@ Dominiuqe : je vais m&ssn;i9tére#3er de plus près à leurs parutions!@ George : je n'ai pas trouv éton billet ... où, billet, ou es tu ?@ Marie : oui !!!!@ L'or des chambres : non, non, c'est frais et c'est bien écrit !!!@ Gambadou : chouette !

batinh

Thư chia sẻ

Có lẽ trong dân gian còn lưu lạc nhiều thơ của Cụ Hữu Loan nhân đọc bài của PXN tôi xin góp một thơ của của Cụ Hữu Loan viết cuối 1950- đầu 1951do Dương Tường sưu tầm để cùng chia sẻ.
TÌNH THỦ ĐÔ
Trên những chuyến xe bò
Đi về đường Trèm Vẽ
Việt Bắc âm u
Đường dài Thanh Nghệ
Người Thủ đô tản cư
Đoàn xe đi
Chở nặng tâm tư
Một góc nhà
Một hè phố
Mắt em biếc
Một chiều xưa
Quan Thánh
Cổ Ngư
Bạch Mai
Bóng liễu Tháp Rùa
Một thằng bạn
Một thằng con
ở lại
*
Khấp khểnh xe đi
Vấp vào đêm tối
Thủ đô
Ngày mùa thu
Thủ đô
Cờ bốc lửa
phố dài
Cờ bốc lửa
công trường Nhà Hát lớn.
Thủ đô
Ngày Tổng Khởi Nghĩa
Ngày Thủ đô chờ đón
Đoàn Giải phóng quân về
Qua cầu Long Biên
Sông bóng người đi
Vai cao rộng
Mặc núi rừng Việt Bắc
Ai về Thủ đô
Khăn thầm nước mắt
Quốc ca mình
Đoàn lính Việt đầu tiên
- Có người làng đi
Trong đoàn lính trẻ.
Thủ đô
Tuần Lễ Vàng
Hà Nội dãy dọc toà ngang
Quên giai cấp
Trong căm thù dân tộc
Thủ đô
Ngày Tuyên Ngôn Độc Lập
Thủ đô
Ngày Tổng Tuyển Cử đầu tiên
Những ngày Thủ đô
Như ộc máu triền miên
Máu những người Tây giết
Chảy về từ lịch sử
Tiếng hát
Vùng lên
Xích xiềng rơi vỡ.
Thủ đô
Ngày Tàu trắng
Quốc dân đảng
Và thực dân
Nghênh ngang phố chật
Bắt cóc
Tống tiền
Khiêu khích
Bắn người
Đám ma đi
Cờ đỏ phủ quan tài
Phố Ôn Như Hầu
Những người bị giết
Xác quăng đầy hố
Đoàn Giải phóng quân đi
Như gại dao trên đường nhựa.
Thủ đô
Quân lệnh đêm
Lựu đạn đen ngòm trong nắm tay
Rình sau mái ngói
Nắng loé tường vôi
Chữ cào xương nhức nhối:
THANH NIÊN SỐNG CHẾT VỚI THỦ ĐÔ!
Mắt em thiếu nhi
Hồ trăng Trung Thu:
Các anh hãy giữ non sông
Cho chúng em!
Bàn tay lớn
Nhận lòng tin bé nhỏ.
Cụ Hồ hỏi anh em bộ đội:
- Các chú liệu giữ được Thủ đô
Bảy ngày?
Một rừng nắm tay
Thét tiếng:
- Thề với Bác!
*
Lửa cháy Thủ đô
Chân trời hấp hối
Xác thằng bạn
Xác thằng con
Trên hè phố Thủ đô
Giặc khởi hấn rồi!
Đường tản cư khuya
Lửa toé sắt bánh xe bò
Một Quyết tử quân hy sinh
Là một đoàn giặc chết
Một Quyết tử quân hy sinh
Và bắt đầu từ đó
Những ngày đêm Thủ đô
Tàn sát
Khu Đồng Xuân
Lính Trung đoàn Thủ Đô
Đâm giặc trên bàn thịt
Như chọc tiết bò
Đuổi giặc
Vật lăn trên nóc chợ
Hai tháng giết nhau
Một đêm thủ đô
Có đoàn Quyết tử
Cắt máu tay ăn thề
Ngõ vắng Thủ đô
Những đơn vị rút đi
Góc phố Thủ đô
Bóng những người ở lại
ánh hoàng hôn lên
Liệm tròn huyết thệ
Người Quyết tử quân
cuối cùng.
*
Những người dân Thủ đô
Về với giặc ở chung
Phải đốt cờ đỏ sao vàng
Thức đêm may cờ ba sắc
Và những sớm mai
Tay xót xa
Đem treo cờ giặc trước nhà
Ai về Hà Nội
Thấy Hà Nội xa hoa
Thấy hà-nội hơn Hà Nội trước
Nhưng Hà Nội
Giặc xây thêm ngục tù
Xe Phòng Nhì
Chở từ ngoại ô
Từng đoàn người xiềng tay
Về qua phố tối.
Ai về Hà Nội
Thấy Hà Nội xa hoa
Thấy hà-nội hơn Hà Nội trước
Nhưng Hà Nội Ngã-Tư-Sở
Hà Nội Khâm-Thiên
Đèn khuya chảy vàng
Những hộp đêm
Mọc theo tiếng giày đinh
Của đoàn Tây mũ đỏ
Tiếng xe tăng viễn chinh
Chiều đi bụi phố
Và giữa trưa Hà Nội yên lành
Hồi còi rú thất thanh
Kêu như người tắc họng
Một xác Việt gian
Ngã tư
nắng đọng
Lũ lượt kéo nhau về Hà Nội
Từng đoàn thiêu thân
Mang trong mình định mệnh
Mủ đờm nhớt lạnh
Và uế khí hôi tanh
Sợ ánh sáng và gió lành
Tôi thành thép
Cánh tay người Kháng Chiến
Từ vùng tự do
Có người vào nội thành
Ném chứng thư Việt Minh
Trên dòng sông
Chào thằng bạn chiến khu
Mà phục tấm lòng.
Đêm Thủ đô
Rét đến
Trong chăn bông
Nghe lạnh chiến khu Vũ
Cơm gia đình
Đũa bát nhớ người đi.
Và những sớm mai
Từng đoàn phi cơ giặc
Chở tóc tang đầy trong thân sắt
Ra những miền quê xanh
Tiếng bom dội về
Chuyển Hà Nội mênh mông
Tìm người Hà Nội
Rung lên như đất chuyển
- Những người Thủ đô tản cư
- Những đồng bào kháng chiến.
Những em mùa thu
Đi trong đoàn thiếu nhi
Lớn lên
Tìm đường chiến khu Việt Bắc.
Những người ngày xưa
Ghét Việt Minh
Bắt đầu chờ đợi
Bao giờ Việt Minh
Mới đánh vào Hà Nội
Cho ánh sáng xa hoa
Vỡ rơi thành bóng tối
Trên xác người máu me
Ngổn ngang gạch ngói?
Đến bao giờ Việt Minh
Mới đánh vào Hà Nội?
Những người bắt sống Le Page
và Charton
Những chiến sĩ Cao Bằng - Đông Khê
Những binh đoàn biên giới
Đang chuyển về Trung Du
Như đi từng dãy núi
Kẹp vòng quanh ngoại vi Thủ đô.
Mắt vời xa
Cô gái Hà Nội tản cư
Đẹp trong màu áo vải quê mùa
Sẽ còn những ai
Trong đoàn quân trở lại
Ngày thủ đô chiến thắng tưng bừng?
*
Em về Thủ đô
Chân phố cũ
Ngập ngừng

Hữu Loan 1950 - 1951
(Dương Tường & Mạc Lân ghi lại theo trí nhớ. Tác giả Hữu Loan đã xem lại)