Cánh đồng bất tận tôi đã thấy

 


Ảnh trên: Cánh đồng trong phim
Ảnh dưới: Diễn viên Dustin Nguyễn vai ông bố (trái); nhà văn Nguyễn Ngọc Tư (phải)

Thấy bằng mắt trên màn ảnh từ cái nhìn của đạo diễn và các diễn viên của bộ phim cùng tên. Khi truyện "Cánh đồng bất tận" của Nguyễn Ngọc Tư xuất hiện lập tức mỗi người đọc bị ngấm con chữ bị nhiễm hơi văn của tác giả đến thành bị ám ảnh cánh đồng. Những cánh đồng bao la có thực ở miền Tây Nam Bộ. Những cánh đồng đời người bất tận khổ đau tuyệt vọng và hy vọng. Đọc truyện ai cũng thầm mong thầm ước: giá mà giá như truyện được làm phim con chữ được biến thành hình ảnh. Ước vậy mong vậy nhưng cũng lại lo: khi biến thành những hình ảnh cụ thể diễn ra trước mắt nhìn liệu cái phập phồng cái sâu xa của con chữ có bị tênh hênh ra có bị phẳng dẹt đi không. Cho nên dễ hiểu là bao nhiêu phấp phỏng hồi hộp e ngại chờ đón từ khi "Cánh đồng bất tận" truyện được mua bản quyền để làm "Cánh đồng bất tận" phim rồi đến khi phim bắt đầu khởi quay rồi lại đến khi phim đi chiếu ở nước ngoài trước trong khuôn khổ Liên hoan phim Pusan (Hàn Quốc) rồi lại lại đến khi nghe tin phim sẽ chiếu ở Hà Nội trong khuôn khổ Liên hoan phim quốc tế Việt Nam lần thứ nhất nhưng không dự thi. Và tối 20/10/2010 tôi và nhiều người đã được thấy một cánh đồng bất tận. Nhiều cảm xúc đã vỡ òa.

Một người Việt ở Mỹ gọi điện về hỏi tôi ba điều quanh bộ phim. Thứ nhất anh hỏi phim có theo sát truyện không. Tôi trả lời anh phim theo sát truyện giữ đúng các nhân vật theo sát các sự kiện tình tiết trong tác phẩm của Ngọc Tư. Cố nhiên có những thay đổi sai khác chỗ này chỗ kia giữa phim và truyện điều không thể tránh khỏi do đặc trưng của hai loại hình do ý đồ đạo diễn do cả sự duyệt phim nữa. Phim theo sát truyện ngay vào đầu khiến có lúc người xem thoáng lo cho một tác phẩm điện ảnh. Nhưng nỗi lo chỉ ở nửa đầu phim càng dần về sau phim càng tạo được không khí điện ảnh cho truyện. Tôi vốn hay có tính so đo đối chiếu khi xem một bộ phim làm từ làm theo một tác phẩm văn học. Có những phim chỉ là minh họa cho truyện. Có những phim chưa thành tác phẩm điện ảnh. Ở phim CĐBT nửa sau tôi như quên mất truyện tâm trạng và cảm xúc bị đẩy căng đẩy tới qua từng trường đoạn phim cho đến khi vỡ ra khủng khiếp ở cảnh cuối người bố bất lực trả giá thấy con gái mình bị cưỡng hiếp ngay trước mặt. Sự kiện này của truyện tôi đã lo không được dựng vào phim. Nhưng nó đã được dựng tuy bối cảnh của sự kiện có thay đổi chút ít tuy vậy hiệu quả của nó vẫn mạnh mẽ và nhức nhối. Tiếc là ngay sau đó phim đã có cảnh "hối cải" của ông bố lạc hẳn mạch phim và cảnh đó cũng không hề có trong truyện và trong ý đồ của nhà văn.

Thứ hai anh bạn hỏi Đỗ Hải Yến vào vai cô gái điếm Sương có tới không Dustin Nguyễn diễn xuất vai ông bố Võ có đạt không. Tôi nói vai Sương của Hải Yến ở phim CĐBT là một cố gắng lớn của nữ diễn viên này là một thử thách của nghề diễn đối với cô và kết quả là Hải Yến đóng tròn vai nhưng chưa tới. Hình như cái thiếu ở đây là nội tâm nhân vật. Vai ông Võ của Dustin Nguyễn cũng vậy anh diễn được sự hận thù nhưng không làm cho người xem thấy sự đau đớn tận bề trong bề sau của người chồng bị phản bội trở thành người cha độc ác người đàn ông phũ phàng. Dustin Nguyễn cũng tròn vai như Hải Yến cả hai diễn viên chuyên nghiệp đã diễn rất chuyên. Nổi bật nhất về vai diễn ở phim này là Lan Ngọc trong vai Nương cô con gái ông Võ. Nhưng trước khi nói đến Lan Ngọc thì không thể không nhắc tới với lời khen trân trọng dành cho hai diễn viên nhỏ tuổi đóng hai chị em Nương và Điền khi nhỏ còn sống với cả bố và mẹ. Hai diễn viên "nhí" này đã thu được lời khen thống nhất của hầu hết khán giả xem phim dù chỉ là trong trường đoạn hồi ức của Nương. Trở lại Lan Ngọc lần đầu tiên đóng phim nhưng cô đã diễn xuất tự nhiên hồn nhiên và do đó là đau đớn tính cách và số phận của một thiếu nữ sống trong một gia đình thiếu bàn tay người mẹ bên cạnh một ông bố cục cằn độc ác giữa khung cảnh đất trời hoang dã. Lan Ngọc bằng diễn xuất của mình đã gieo được vào lòng khán giả nỗi xót thương và căm phẫn trước sự tàn bạo và vô cảm của con người đối với con người.

Thứ ba anh bạn hỏi trong phim có cánh đồng không có quang cảnh miền Tây không quang cảnh đó có gắn liền với truyện không. Tôi thưa cánh đồng thực là có. Có cánh đồng lúc Sương rời khỏi con thuyền của cha con ông Võ đi về một nơi vô định được quay đẹp như tranh chất chứa tâm trạng nhân vật. Có cánh đồng khi Nương bước đi với bụng bầu mang đứa con của kẻ hiếp mình nhưng cô sẽ đặt tên là Thương với mong mỏi tình thương sẽ xóa bỏ hận thù và "trẻ con đôi khi cũng nên tha thứ cho những lỗi lầm của người lớn". Và trong toàn phim con thuyền của ông Võ mang chở những số phận người và những kiếp sống lang thang trên những kênh rạch sông nước cằm sào dừng lại giữa những cánh đồng mùa gặt. Đất đai phong cảnh miền tây Nam Bộ thực đã không phụ lòng người chọn bối cảnh và những cú máy của nhà quay phim. Có thể nói cảnh trí tự nhiên trong phim cũng đã thành một nhân vật có góp phần làm nên một cánh đồng bất tận có hình và có sắc.

Và như vậy tôi đã nói tới nội dung nhân vật và bối cảnh của phim CĐBT. Còn gì nữa? Âm nhạc của phim mênh mang và sâu lắng nó làm đầy cho những khoảng lặng của phim khi những con người lẽ ra gắn kết với nhau rất chặt thì lại cứ rời nhau ra lại không thể nói với nhau hay rất khó nói với nhau những khoảng lặng ấy được đầy lên trong tiếng nhạc nét nhạc như xoáy sâu như an ủi như khơi gợi. Cánh đồng bất tận từ truyện sang phim vẫn là nhịp kể là cuộc sống thường ngày trôi đi bình lặng bề ngoài nhưng chất chứa sôi sục bề sau để rồi phải nổ tung lên phải vỡ ra một cách dã man tàn bạo hòng chấm dứt sự tàn bạo dã man. Phim đã biết nuôi dưỡng và dồn nén cảm xúc nên tuy ít cao trào nhưng vẫn gây được "vụ nổ" tâm lý cho người xem cả người đã đọc và chưa đọc truyện.

Cố nhiên vì như đã nói ở trên khi đọc truyện của Nguyễn Ngọc Tư mỗi người đều có một "cánh đồng bất tận" của mình nên đứng trước cánh đồng bất tận của Nguyễn Phan Quang Bình cùng đoàn làm phim của anh mở ra sẽ có nhiều ý khen chê nhiều cách nhìn khác nhau. Tôi thì tôi đã thấy có một cánh đồng bất tận mở ra từ truyện hiện hình lên phim và đọng lại trong tôi.

 

Hà Nội 10.2010