Cái tài giắt lưng

 

Tài năng đó là một cái vốn. Cái vốn trời cho. Chẳng phải tôi nghĩ ra điều này mà là anh nho sinh Nguyễn Công Trứ cách nay gần hai trăm năm. Chàng Trứ rất tự tin: "Trời đất cho ta một cái tài / Dắt lưng dành để tháng ngày chơi". Thế nghĩa là ta có một cái vốn vốn này không phải tiền bạc. Tiền bạc thì con người cố sẽ kiếm được nhiều nữa là khác. Vốn này là cái tài mà tài thì của trời cho nên chi đừng cạnh tranh so bì hơn thiệt. Bất tài là do trời không cho. Ta được trời cho tài tức thị là trời cho ta một cái vốn nó vô hình không cân đong đo đếm cụ thể được không sờ mó trông thấy nhãn tiền được nhưng mà nó có thực. Ta mang nó trong người như dắt đồng vốn ở lưng quần túi áo khi nào cần thi thố với đời thì ta lấy ra dùng Anh nho sinh Nguyễn Công Trứ tuổi đã luống mới thi đậu cửa Khổng sân Trình rồi ra làm quan đường hoạn lộ cũng mấy phen thăng trầm trầy trật khi lên thượng thư khi xuống lính trơn nhưng ông vẫn "được mất dương dương người tái thượng / khen chê phơi phới ngọn đông phong" ấy là vì ông có tài và thị tài. Vua chúa biết đến tài ta mà dùng ta thì lợi cho nước cho vua bằng không biết không dùng thì chỉ thiệt vua thiệt nước. Nói như Lý Bạch nghìn năm trước "thiên sinh hữu tài tất hữu dụng" (trời sinh ta có tài thì ắt phải cho có lúc dùng). Nguyễn Công Trứ sống thời phong kiến luân lý Khổng Mạnh còn đè nặng  và chi phối mạnh mọi ứng xử của con người trong cuộc sông trật tự xã hội vua quan nhiều cách bức nặng nề nhưng ở thời ông cái tài của cá nhân đã  bước đầu được bộc lộ được bày tỏ và được thi thố. Nào cùng đọc lại cả bài thơ rất dõng dạc hiên ngang của Uy Viễn tướng công khoe cái tài tự hào về cái tài trời đã cho mình.


Trời đất cho ta một cái tài

Giắt lưng dành để tháng ngày chơi

Dở duyên với rượu khôn từ chén

Trót nợ cùng thơ phải chuốt lời

Cờ sẵn bàn son xe ngựa đó

Đàn còn phiếm trúc tính tình đây

Ai say ai tỉnh ai thua được

Ta mặc ta mà ai mặc ai


Ghê chưa hai câu cuối bài thơ rõ là một người lớn tài nên lớn tiếng. Hãy chú ý câu thơ thứ hai "giắt lưng dành để tháng ngày chơi". Làm việc đã phải cần tài năng nhưng chơi cho ra chơi chơi cho có lịch có lề thì cũng phải có tài mới chơi được. Tài năng cho phép ta làm được những việc lớn và do đó cũng cho phép ta biết sống một cuộc sống vui chơi có văn hóa có hiệu quả có bản lĩnh. Ai đã từng đọc về cuộc đời và sự nghiệp cụ Thượng Trứ hẳn đều thấy cụ nói được và làm được cụ đã sống được một cuộc sống gần theo ý mình mặc cho vòng kiềm tỏa nghiệt ngã của một xã hội không dung túng cá tính cá nhân cho dù đã có phần phải nới lỏng do những biến thiên của lịch sử.

          Nói ra chuyện Nguyễn Công Trứ của hai thế kỷ trước cũng là để nói chuyện hôm nay. Tài năng là của hiếm mà đã hiếm thì khó thấy khi thấy rồi mà không biết nâng niu giữ gìn phát huy thì nó cũng mất. Bởi vì cái tài người tài thường là ở ngoài khuôn khổ ít nằm vừa trong những chuẩn mực thông thường ít chiều lòng những lẽ phải quen thuộc do đó thường gây khó chịu cho những ai tiếp xúc với nó đo lường nó theo những định mức bình thường. Cùng thời với Nguyễn Công Trứ có Cao Bá Quát. Ông Quát có tài điều này ai cũng biết cũng thừa nhận. Tương truyền ông nói thiên hạ có ba bồ chữ thì hai anh em nhà ông đã chiếm hai bồ. Tương truyền vua Tự Đức đã khen ông hết mức: "Văn như Siêu Quát vô Tiền Hán / Thi đáo Tùng Tuy thất Thịnh Đường". Tương truyền ông bịt mũi chê thơ của nhóm thi xã do ông hoàng Miên Thẩm Tùng Thiện Vương đứng đầu "Ngán cho cái mũi vô duyên / Câu thơ Thi Xã con thuyền Nghệ An". Cái tài vượt trội về văn thơ cộng với tính cách tự tin ngạo đời của Cao Bá Quát đã thách thức những lề lối chuẩn mực của một nhà nước chỉ trọng phép tắc trường quy và thích chạy theo hư danh. Ông không được nhìn nhận đúng năng lực của mình. Ông bị ràng buộc kìm hãm ở những công việc không xứng với tài mình không cần đến tài mình. Và Cao Bá Quát đã bị lâm tình thế bi kịch của một người trí thức một người tài bị bật ra khỏi khuôn khổ của cái xã hội không dung chứa nổi mình. Như đôi câu đối ông vịnh Thánh Gióng: "Phá tặc đãn hiềm tam tuế vãn / Đằng vân do hận cửu thiên đê" ("Đánh giặc còn cho tuổi lên ba là muộn / Bay lên mây vẫn hận chín tầng trời là thấp").

          Thời nào cũng vậy người tài chỉ cần được biết đến được trọng dụng để có thể đem cái tài mình có - cái vốn trời cho ra thi thố với đời làm lợi cho mọi người làm giàu đẹp thêm cuộc sống. Tài năng thuộc trời nhưng môi trường cho tài năng phát triển lại là thuộc người. Người có thể làm mai một cái tài lại cũng có thể làm cái tài được nẩy nở sinh sôi. Chuyện đối đãi vật chất với tài năng chưa phải là cái chính mà quan trọng nhất là sự đối xử tinh thần với những người có tài mang tài. Trong lịch sử không hiếm những ông vua ban chiếu cầu hiền cầu tài những mong kiếm được người giỏi giúp đỡ giang sơn xã tắc. Nhưng giữa chiếu ban ra và việc thi hành chiếu nhiều khi lại trật khớp lại tréo ngoe khiến lòng có thành mà tâm không động ý có thực mà việc không thành. Mới hay tìm được tài đã khó dùng được tài và làm cho tài được dùng lại càng khó hơn. Điều này đòi hỏi người lãnh đạo quản lý phải có khả năng nhìn người có tầm nhìn xa trông rộng và phải biết tạo ra một hệ thống vận hành để người tài không bị lệ thuộc quá nhiều vào những lề luật thói quen vốn là cái khung giữ cho một trật tự ổn định hơn là vận động đi tới.

          Năm nay là Tân Mão năm con Mèo. Nguyễn Công Trứ đã dốc hết tài năng của mình phục vụ cho triều đình nhà Nguyễn ở thời ông. Ông rất tự hào phấn chấn với cái tài của mình và với những việc ông đã làm được nhờ cái tài đó. Nhưng cuộc đời điên đảo thế sự đảo điên khiến ông có lúc cũng cay đắng ngậm ngùi cho thân phận mình. Ông tự ví mình như ngựa đối lập với những kẻ như mèo: Con mèo nằm bếp co ro / Ít ăn thì lại ít lo ít làm / Con ngựa đi Bắc về Nam / Hay ăn thì lại hay làm hay lo. Rốt cục ông ước mình thành "cây thông đứng giữa trời mà reo". Thông có cốt cách bản lĩnh của thông. Nguyễn Công Trứ mang cái tài giắt lưng muốn làm thông là ý trách đời "kiếp sau xin chớ làm người".

          Ngẫm ra phải là người tài mới có nỗi ngậm ngùi ấy.


Hà Nội đông 2010

(Tuổi Trẻ số tết Tân Mão 2011)

Thụy Dzu

Hồi âm

Kính Bác Nguyên

1.Cám ơn bác đã hồi âm nhờ vậy tôi mới biết thêm được mấy ý sau :

_ “Bài thơ chị bình tương truyền là của NCT” như vậy chưa hẳn đã là của Cụ nhưng mà nghe thì đúng là văn phong của Cụ kiểu như :
“Chữ tình là chữ chi chi
Dẩu chi chi cũng chi chi với tình.”

_”thơ là thất ngôn bát cú” vậy mà tôi cứ tưởng chỉ có 4 câu quả là tôi dốt quá.

_Điều thú vị nhất là bài thơ được bác ghi lại bằng tiếng Nghệ - quê choa nghe thật sướng lỗ tai.

2.Đến hôm nay tôi mới được biết Dịch giả Ngân Xuyên chính là bác. Tôi rất thích bài thơ “Ta cứu đời nhau ở trong nhau” và tác phẩm “Giã từ thế kỷ hai mươi” do bác dịch của Evghenhi Aleksandrovich Evtushenko.

3.Người ta nói bác là người đa tài. Quả không sai. Chỉ với 2 câu hình như là tự giới thiệu hay tự bạch nhỉ :
« Viện Văn có một Phạm Xuân
Nguyên là cán bộ cử nhân phê bình »
đã đủ để thấy được bản lĩnh của bác.
4.Cuối cùng thì một lần nữa xin cám ơn bác đã hồi âm rất nhanh và đã giúp tôi thêm một ít kiến thức nữa để cho đời thêm vui.

Kính bác.

pxn

@ Thuy Dzu

Chào chị (hay anh mà chắc là chị) Thụy Dzu. Rất vui được chị góp lời về NCT một bậc tài danh của xứ Nghệ và Việt Nam mà tôi rất thích rất phục. Bài thơ chị bình tương truyền là của NCT dùng toàn tiếng Nghệ thơ là thất ngôn bát cú nhưng thiếu mất hai câu cuối tôi nhớ là thế ni:

Tau ở nhà tau tau nhớ mi
Nhớ mi nên mới bước chin (chân) đi
Không đi mi nói răng (sao) không đến
Đến thì mi nói đến mần (làm) chi
Mần chi tau đã mần chi được
Mần được thì tau đã mần đi

Ngày xuân đọc thơ cụ Trứ thật sướng bụng sướng gan. Chúc vui cùng chị với thơ cụ Trứ của nhà choa!

Thụy Dzu

Kính Bác Nguyên

Tôi cũng hay đọc blog của Bác.
Báo xuân thì họa hoàn mới lướt qua.
Hôm nay mùng 5 tết nhân đọc được bài viết này của Bác lòng thấy vui vui…vì Bác đã dùng một bài thơ của Cụ Nguyễn Công Trứ làm background…mà tôi thì cũng rất mê thơ Cụ…
Nên mạo muội xin mượn đất của Bác để ghi lại một bài viết mà tôi đã “ngẫu hứng” từ cuối năm 2008 cũng là lạm bàn thô thiển về một cái tài khác của Cụ Nguyễn Công Trứ.

Cũng chỉ là có ý góp vui mà thôi.
Nếu có gì phật lòng kính mong Bác lượng thứ.

Tao…mi…

“Tao ở nhà tao tao nhớ mi
Nhớ mi nên phảI bước chân đi
Không đi mi nói rằng không đến
Đến rồi mi nói đến làm chi”

Thất ngôn tứ tuyệt thì đúng rồi. Mà lại chữ Nôm chứ chẳng phải chữ Hán.Rất dễ nghe nhưng chưa chắc dễ hiểu.Là thơ tình hay tự cảm thán sao chữ nghĩa quá ư đơn giản…
Cái cách xưng hô ngay đầu câu “Tao…mi…” nửa như nghiêm nửa như bỡn nửa gần gũi nửa xa xôi. Chỉ có thể thấy cách dụng từ như vậy ở một người cao tuổi quyền thế nói với một ngườI nhỏ tuổi kém thế hơn mình nhiều Cứ như Lão gia nói chuyện với con sen ở xứ ta đó mà…nhưng mà thương thương lắm.
Nên “Tao ở nhà tao tao nhớ mi” cái chữ “mi” ở một số vùng miền Trung nước ta là từ để gọi để nói với môt người mà mình rất thân thương rất quan tâm…Vây thì đích thị câu mở đầu là một lời nhắn gởi đầy yêu thương nhớ nhung của một Lão gia với một cô bé tình nhân chắc chỉ độ mười tám đôi mươi.Chứ chẳng lẽ một ông già đi nhớ thương một mụ sồn sồn mà lại “tao với mi”…
Nỗi nhớ rất cồn cào da diết không chịu được nữa nên mới phải “Nhớ mi nên phải bước chân đi”. Đúng là chỉ có thể nói về tình yêu mà thôi. Bởi khi đã yêu thì Cụ già bẩy tám mươi cũng hệt như anh trai tơ vậy thôi. Sao mà ở nhà được phải đi đi để mà gặp gỡ để cho vơi hết bao nỗi nhớ thương chứ…
Mà cái “con bé” này nó cũng tinh quái lắm nó biết Cụ thương Cụ nhớ nó nhiều…nên đâm nó bỡn nó lại còn dám trách ngược lại cơ đấy : “Không đi mi nói rằng không đến”…
Ái cha cha! Ở cái xứ Á Đông này mà nhất lại là An nam ta thì cái chuyện “trai năm thê bẩy thiếp” ở cái thuở chưa phải là xa xôi lắm là chuyện thường tình. Nhất là đối với các bậc đại trượng phu quyền thế đầy mình thì cứ thích em nào thời em đó đố mà chạy thóat. Nhưng mà ở đây rõ ràng là có cái tình đàng hòang có vẻ chân chính lắm (không ép buộc mà là tình tự nguyện vì mến tài mộ đức hẳn hoi). Nên con bé cũng ở nhà nó mà cũng nhớ cũng mong nên mới hờn mới trách sao Cụ không đến ? Thật là rất thi vị cho dù tuổi tác có so le..
Đấy thế là Cụ cứ phải đến nhà “mi”. Mà nghĩ cũng tội Cụ đã đến rồi con bé lại chưa chịu bày “rượu nồng thịt béo gái tơ” ra hầu Cụ (gái tơ thì đích thị là mi rồi chứ còn ai vào đây nữa) nó lại còn dấm dẳn nhõng nhẽo Cụ bằng câu hỏi rất ư là ngơ ngác cừu non : “…đến làm chi”…
Thế nhưng chính cái lối vừa như lẳng vừa như thơ dại cứ tròn xoe đôi mắt ra mà hỏi ra cái điều thiếp còn ngây ngô lắm…nhưng chắc cũng là con nhà có chút chữ lận lưng để mà còn vừa chuốc rượu vừa đối đáp và biết khen cả thơ của Cụ hay…thì mới khiến Cụ mê mệt được chứ…Cho nên dù mi có hơi hỗn có dám bỡn cợt thì cụ đây vẫn cứ yêu chiều thương nhớ. Ra cái điều “trai tài sánh gái thuyền quyên” chứ lỵ.Để khi tàn rượu vơi nỗI khát khao trở về nhà Cụ lại :
“Tao ở nhà tao tao nhớ mi…”

Đọc bài thơ trên thì chắc ai cũng biết đó là bài “Bỡn nhân tình” của Uy Viễn Tướng quân Nguyễn Công Trứ. Vâng! Chính là Cụ Trứ đa tài và đa tình đấy. Một con ngườI biết sống đúng nghĩa khi làm thì làm hết mình hết sức nhưng khi chơi thì cũng cực kỳ phong lưu đài các.Thế cho nên chỉ vớI một khổ thơ ngắn bằng tiếng Nôm Cụ đã kể cho ta về cái tình của mình cái tình như đùa như bỡn nhưng chẳng vướng danh lợi nhục vinh chỉ là cho thỏa cái sự hòa hợp âm dương muôn đời muôn kiếp của giống người…Mà đôi khi có kẻ còn lợi dụng để cầu vinh hoa phú quý hay như cũng có kẻ chối bỏ không dám nhắc tới chỉ vì sợ làm xấu cái hình ảnh của mình đi…

Sách sử nói Cụ Nguyễn Công Trứ mất năm 80 tuổi kẻ hậu sinh đồ rằng chắc Cụ đã có để lại cho người con gái được Cụ yêu chiều đó một khổ thơ cuối cùng để “mi” mãi mãi nhớ đến “Tao” – nhớ đến cái tài hoa của một “Trai tài” mà ngay cả các cô nường đương xuân ngày nay nếu chịu khó trau dồi kiến thức thay vì túm tụm nhau đi khoe “vú đít” trong các cuộc thi hoa hậu dấm dớ cũng vẫn sẳn lòng yêu lắm lắm :

“Tao đi xa rồi mi ở lại
Nói hờn nói bỡn chỉ mình mi
Nếu có nhớ Tao mi đừng khóc
Cứ đọc thơ Tao thế mới chì”

(Mà cô bé này chì thật …nên Cụ Nguyễn mới hạ bút đề thơ chứ…)

Những ngày cuối tháng12 năm 2008
anhcasg