Nghệ sĩ thời chiến (Howard Zinn)

By phạm xuân nguyên


Khi tôi nghĩ về mối quan hệ giữa nghệ sĩ và xã hội -và đối với tôi vấn đề này bao giờ cũng có thể là gì hơn đang là gì - tôi nghĩ đến cái từ "siêu nghiệm". Đó là một từ tôi chưa bao giờ dùng trước công chúng nhưng đó là từ duy nhất mà tôi có thể dùng để mô tả điều tôi nghĩ về vai trò của nghệ sĩ. Nói "siêu nghiệm" ý tôi muốn nói nghệ sĩ siêu nghiệm cái tức thì. Siêu nghiệm cái ở đây và bây giờ. Siêu nghiệm sự điên rồ của thế giới. Siêu nghiệm chủ nghĩa khủng bố và chiến tranh. Các nghệ sĩ suy tư hành động trình diễn âm nhạc viết văn ở bên ngoài cái khung mà xã hội đã tạo ra. Nghệ sĩ không thể làm gì nhiều hơn là đưa lại cho chúng ta vẻ đẹp tiếng cười sự đam mê sự ngạc nhiên và tấn kịch. Tôi không có ý hạ thấp các hoạt động này khi nói nghệ sĩ không thể làm gì hơn những việc đó. Nghệ sĩ không cần phải xin lỗi bởi vì khi làm những việc đó nghệ sĩ nói với chúng ta thế giới phải nên như thế nào ngay cả nếu như bây giờ nó chưa được thế. Nghệ sĩ mang chúng ta thoát khỏi những thời khắc khủng khiếp mà chúng ta trải qua hàng ngày - một số ngày nhiều hơn những ngày khác - bằng cách chỉ cho chúng ta thấy điều gì là có thể. Nhưng nghệ sĩ có thể và cần phải làm hơn thế. Thêm vào việc sáng tạo các tác phẩm nghệ thuật nghệ sĩ cũng còn là một công dân và một con người. Cái cách xã hội định phân loại chúng ta khiến tôi hoảng sợ. Tôi là một nhà sử học. Tôi không muốn chỉ là một nhà sử học nhưng xã hội đã đặt chúng ta vào khuôn khổ. Vâng nó đã rèn chúng ta: anh là nhà sử anh là doanh nhân anh là kỹ sư. Anh hoặc làm nghề này hoặc làm nghề khác. Điều đầu tiên người ta hỏi anh khi gặp ở một bữa tiệc là "Anh làm nghề gì?". Câu hỏi đó có nghĩa là "Anh được phân loại thế nào?" Vấn đề mà mọi người bắt đầu suy nghĩ rốt cuộc họ là ai. Họ là những người chuyên nghiệp về một cái gì đấy. Anh nghe cái từ chuyên nghiệp thường được dùng nhiều. Mọi người nói "Anh cần phải chuyên nghiệp". Cứ mỗi khi nghe thấy cái từ này tôi lại hơi sợ bởi vì nó đóng khung con người làm việc bên trong khuôn khổ nghề nghiệp của họ.

More...

Tổng thống Xứ Mơ (Enyo Iogy Teshansky)

By phạm xuân nguyên

Mơ thường trái hẳn với thực chẳng phải vậy sao? Trong mơ những mong ước thiêng liêng nhất của chúng ta đều được thực hiện. Khi ta mơ thấy được vàng ấy là khi trong đời ta không một xu dính túi. Nói gọn lại tương tự như ví dụ này bạn có thể dễ dàng hình dung tình hình chính trị và xã hội của Xứ Mơ là thế nào.

Tôi chỉ xin nói một điều: ở Xứ Mơ người công dân mẫu mực nhất hoàn toàn không phải là người làm lụng nhiều hơn những người khác luôn luôn tất bật vội vàng mà là người lười hơn những người khác suốt ngày chỉ nằm ườn trên đi-văng ở nhà mình. Vì thế dễ hiểu là người đứng đầu nhà nước Xứ Mơ được bầu không phải là người chăm làm nhất mà là người vô công rồi nghề nhất.

More...

Mối tình xuyên Đại Tây dương (tiếp theo và hết)

By phạm xuân nguyên

Algren viết thư đáp lại rằng ông có ý định đề nghị bà lấy ông khi bà đến Chicago. Ông thích chờ đợi cuộc gặp để nói chuyện nghiêm túc nhưng bức thư ngày 23 tháng bảy đã buộc ông phải nhìn sự việc một cách tỉnh táo: cuộc hôn nhân sẽ đẩy cả hai người đến sự đoạn tuyệt không thể được với cái thế giới mà mỗi người không thể tách rời. Chẳng lẽ có thể chặt đứt gốc rễ ràng buộc bà với Paris ông với Chicago mà không thấy nuối tiếc và không cảm như đó là một cuộc tự sát tinh thần? Tuy nhiên ông cảm thấy mình buộc chặt với bà bởi những mối dây hôn nhân chặt hơn những mối dây đã từng gắn ông với người vợ hợp pháp trước đây. Còn về tương lai... Liệu một ngày nào đó ông có căm ghét bà không?Hiện thì ông cảm thấy là điều đó không thể có được. Ông biết ơn bà và sẵn sàng vì bà mà từ bỏ hình thức chung sống theo như thông lệ:họ sống một thời gian bên nhau rồi bà ra đi. Nếu ông có điều kiện thì bay đến Pháp sau đó trở về nhà không hề có những cảnh bi thương sướt mướt.

More...

Mối tình xuyên Đại Tây dương (tiếp theo)

By phạm xuân nguyên

 

Thứ bảy 7/7 [1947]


Nelson yêu quý từ sáng trời đổ mưa đường sắt bãi công em không biết làm cách nào để ra được chỗ ở ngoại ô. Sau hai ngày ác mộng vừa qua ở Paris em rất muốn đến đó nghỉ ngơi và làm việc. Chiều thứ năm khi viết thư cho anh tâm trạng em hơi bị u uất nhưng bây giờ thì qua rồi. Cái chính là em lại muốn làm việc. Em đã uổng công sau khi trở về cố lập tức ngồi vào bàn viết tiếp cuốn sách về phụ nữ (ý nói cuốn "Giới thứ hai" - ND) mà em đã khởi thảo trước khi đi. Đối với em nó tạm thời đã chết. Em không thể nào tiếp tục viết tiếp được từ cái chỗ bị ngắt quãng. Em sẽ quay lại nó nhưng là về sau còn bây giờ em phải sục vào các ấn tượng chuyến đi của mình em không muốn để chúng tản mát mất cần phải lưu lại một cái gì đó dù chỉ là trên giấy nếu như không thể bằng cách nào khác (về sau những ghi chép này được tập hợp thành cuốn sách "Nước Mỹ ngày qua ngày" - ND). Em sẽ viết về nước Mỹ và về bản thân muốn trình bày nó như một kinh nghiệm cá nhân: "tôi ở Mỹ". Muốn chỉ ra cái gì ẩn đằng sau những từ "đến" "đi" "nhìn xem đất nước" muốn nhận thấy cảm thấy nắm bắt một cái gì đó v.v. Đồng thời em sẽ cố gắng suy nghĩ về chính hiện thực cuộc sống Mỹ. Anh hiểu là ý em nói gì chứ? Em sợ mình diễn đạt không được rõ ràng cho lắm nhưng ý đồ này rất hấp dẫn em.

More...

Mối tình xuyên Đại Tây dương

By phạm xuân nguyên

Mọi chuyện bắt đầu vào tháng Giêng 1947 khi Simone de Beauvoir (1908 - 1986) nữ văn sĩ Pháp nổi tiếng vợ nhà triết học lớn Jean-Paul Sartre đến Mỹ theo lời mời của một số trường đại học. Trong thời gian lưu lại ở Chicago theo lời khuyên của một cô bạn người New York bà đã có cuộc gặp nhà văn Nelson Algren (1909 - 1981). Ông đã dẫn bà đi thăm khắp thành phố chỉ cho bà thấy khu "dưới đáy" của Chicago đến thăm khu phố Ba Lan nơi ông lớn lên. Chiều ngày hôm sau bà rời đi Los Angeles nhưng trái tim đã để lại Chicago. Họ yêu nhau nồng nàn say đắm nhưng không được sống bên nhau bởi rời Chicago cuộc đời Algren mất hết ý nghĩa cũng như Simone không thể từ bỏ Paris. Suốt mười bảy năm (1947 -1964) ngoài những lần gặp gỡ hiếm hoi mối tình xuyên Đại Tây dương của họ chở nặng trên những cánh thư. Cuộc tình chấm dứt khi cuốn hồi ký "Sức mạnh đồ vật" của Simone de Beauvoir ra đời (1963). "Em hy vọng anh sẽ hài lòng với những trang viết về anh em đã đặt vào đấy tất cả trái tim mình" - bà viết cho Algren. Nhưng phản ứng của nhà văn Mỹ thật bất ngờ gay gắt. Ông đã xỉ vả thậm tệ cuốn sách trên báo chí và cho đến tận lúc chết cũng không có ý định nối lại mối quan hệ bị gián đoạn với nữ văn sĩ Pháp. Ông mất trong cảnh cô độc tại nhà riêng của mình ở Chicago không có ai bên cạnh lo việc tang ma. Sau khi Algren mất Simone sửng sốt khi được biết rằng mặc dù nguyền rủa bà công khai như vậy nhưng ông vẫn cất giữ các bức thư của bà. Chúng đã được đem bán đấu giá và một trường đại học ở bang Ohio đã được quyền sở hữu. ít lâu sau họ xin phép bà cho công bố các bức thư đó. Vị tất khi được viết ra chúng đã nhằm để công bố bởi chúng mang đầy những lời bộc bạch rất riêng tư. Nhưng đối với Simone de Beauvoir sự tự khám phá bản thân thậm chí có gây xốc chăng nữa vẫn là một trong những phương châm có tính nguyên tắc: nhà văn khi kể về mình cũng là giúp cho sự tự nhận thức của nhân loại nhà văn không thể có điều gì bí mật che giấu người đương thời và hậu thế. Bà cho phép công bố với điều kiện là tự bà chuẩn bị các bức thư đem in và dịch chúng sang tiếng Pháp. Năm 1986 Simone de Beauvoir mất chưa kịp hoàn thành công việc này. Con gái bà là Sylvi Le Bone de Beauvoir đã làm tiếp phần việc dở dang của mẹ và cho ra mắt cuốn sách "Lettres à Nelson Algren. Un amour transatlantique" ("Thư gửi Nelson Algren. Mối tình xuyên Đại Tây dương") tại Pháp năm 1997. Trong mười bảy năm Simone de Beauvoir đã gửi cho Nelson Algren tất cả 304 bức thư. Dưới đây tôi trích dịch một số.

More...

Lựa chọn A. Camus

By phạm xuân nguyên

Nhân đọc bài nhà văn Nguyên Ngọc viết về nhà thơ Lê Đạt dịp giỗ đầu có đoạn phân tích sự hành xử của Lê Đạt giữa kiểu Malraux và Camus tôi nhớ lại mấy lời bộc bạch của nhà văn Nhật Bản Ôé Kenzaburô (Nobel văn học 1994) có nói đến thái độ lựa chọn của ông giữa Camus và Sartre bèn dịch ra đây.

More...

Về nhà trước buổi sáng (Lynda Van Devanter)

By phạm xuân nguyên

Ngày 8 tháng 6 năm 1969 một nữ y tá Mỹ trẻ trung yêu nước vừa xong khóa đào tạo cơ bản đã bị đưa sang Việt Nam để làm nghĩa vụ trong một năm với cấp bậc thiếu úy. Cô gái đó có tên là Lynda Van Devanter. Làm việc tại một bệnh viện dã chiến ở tỉnh Pleiku sát biên giới Campuchia Lynda Van Devanter đã bị quẳng vào một thế giới ác mộng của cuộc chiến khốc liệt và những trận pháo kích bằng cối hàng đêm của máu me và những bao đựng xác của sự dũng cảm bất chợt và nỗi cô đơn khủng khiếp của cái nóng oi bức ngột ngạt và sự kiệt sức rã rời. Điều tệ hại nhất là những bộ mặt hoang mang rũ rượi của các thanh niên Mỹ. Một năm sống như vậy đã tước mất của Lynda Van Devanter tuổi trẻ lòng yêu nước sự ngây thơ - và cả tương lai nữa.
          Chiến tranh kết thúc Lynda trở về nhà. Chẳng bao lâu chị hiểu ra rằng cơn ác mộng chỉ mới bắt đầu. Bạn bè và gia đình chị sống trong thanh bình không thể hiểu được và không muốn biết tất cả những gì chị đã trải qua ở Việt Nam thời chiến tranh. Suốt mười mấy năm liền chị một mình vật lộn với địa ngục của mình cho đến lúc nhận ra rằng còn vô số các cựu binh Việt Nam khác cũng như chị không bao giờ có thể quên được quá khứ... Và Lynda Van Devanter bắt đầu hành động: chị làm giám đốc tổ chức nữ cựu binh chiến tranh Việt Nam tư vấn cho các cựu binh khác đi nói chuyện thảo luận về chiến tranh khắp nước Mỹ viết bài đăng báo viết sách. Cuốn sách đầu tay của Lynda Van Devanter nhan đề Mọi điều chúng tôi đã trải (Evering We Had) có tiếng vang lớn thuộc hàng sách bán chạy. Tác phẩm Về nhà trước buổi sáng (Home Before Morning 1983) là cuốn sách thứ hai của chị (với sự cộng tác của Christophe Morgan). Báo Business Week đánh giá: "Câu chuyện của chị  đáng được coi trọng và đã đưa lại cái nhìn về một thế giới khác của nước Mỹ mà đến hiện giờ vẫn thường bị lờ đi". Dưới đây là lời nói đầu và chương vĩ thanh của tác phẩm này.


More...

Tiếng nào được dịch nhiều nhất?

By phạm xuân nguyên


More...

Ngẫu hứng ở Bắc Kinh (Allen Ginsberg)

By phạm xuân nguyên


 

Allen Ginsberg sinh ngày 3/6/1926 tại Newark New Jersey là con của Naomi Levi Ginsberg một phụ nữ Nga gốc Do Thái và Louis Ginsberg một nhà thơ có uy tín ở địa phương. Allen Ginsberg học Đại học Columbia. Bước ngoặt trong đời chàng sinh viên đang mơ ước trở thành luật gia chuyên về luật lao động là khi ông gặp Jack Kerouack và Williams S. Burroughs những nhà văn về sau sẽ trở thành nòng cốt của phong trào Beat. Tốt nghiệp đại học năm 1948 ông làm rất nhiều nghề: thủy thủ thợ nhà in rửa bát điểm sách nhân viên tiếp thị... Năm 1950 Allen Ginsberg đến San Francisco ở đó ông gặp các nhà thơ Kenneth Rexroth Gary Snyder Lawrence Ferlinghetti.

Ngày 13 tháng 10 năm 1955 Ginsberg đọc bài thơ dài Tiếng tru (Howl) tại Gallery Six ở San Fransisco trước một cử tọa cuồng nhiệt. Bài thơ được Hiệu sách City Lights (Đèn Thành phố) của Ferlinghetti xuất bản năm 1956 đã bị ra tòa với tội danh "văn hóa phẩm bẩn thỉu" nhưng kết quả là trắng án. Bài thơ này được dịch ra 23 thứ tiếng trên thế giới. Howl và những bài thơ sau đó của Ginsberg thể hiện sự ảnh hưởng của thơ cổ Ấn Độ các nhà thơ siêu thực Pháp nhà thơ Anh thế kỷ XIX William Blake và các nhà thơ Mỹ Walt Whitman William Carlos Williams...

Ginsberg đã làm thay đổi giọng thơ Mỹ và trở thành bộ mặt trung tâm của trào lưu phản - văn hóa những năm 60. Trong thời nhiễu loạn ấy giới trẻ Mỹ đã coi ông như người dẫn đường tinh thần một Đạo sư của những kẻ "rời bỏ". Ông cũng tham gia những cuộc phản đối chính trị và đưa tinh thần ấy vào thơ (đòi quyền tự do quyền của những kẻ yếu - nhất là những người đồng tính luyến ái chống nhà nước cảnh sát Mỹ chống chiến tranh Việt Nam và bom hạt nhân)

Allen Ginsberg đã được bầu vào Viện Hàn lâm Nghệ thuật và Văn chương Mỹ. Ông mất ngày 5/4/1997 tại New York City vì bệnh ung thư gan.


More...

Cu Ba nửa thế kỷ (1.1.1959 - 1.1.2009)

By phạm xuân nguyên


More...