Sign up
« Trước | Sau»
Về nhà trước buổi sáng (Lynda Van Devanter)
phamxuannguyen | 26 Apr, 2009, 00:16 | Ngân Xuyên dịch | (154 Reads)
Ngày 8 tháng 6 năm 1969, một nữ y tá Mỹ trẻ trung, yêu nước vừa xong khóa đào tạo cơ bản đã bị đưa sang Việt Nam để làm nghĩa vụ trong một năm với cấp bậc thiếu úy. Cô gái đó có tên là Lynda Van Devanter. Làm việc tại một bệnh viện dã chiến ở tỉnh Pleiku sát biên giới Campuchia, Lynda Van Devanter đã bị quẳng vào một thế giới ác mộng của cuộc chiến khốc liệt và những trận pháo kích bằng cối hàng đêm, của máu me và những bao đựng xác, của sự dũng cảm bất chợt và nỗi cô đơn khủng khiếp, của cái nóng oi bức ngột ngạt và sự kiệt sức rã rời. Điều tệ hại nhất là những bộ mặt hoang mang, rũ rượi của các thanh niên Mỹ. Một năm sống như vậy đã tước mất của Lynda Van Devanter tuổi trẻ, lòng yêu nước, sự ngây thơ - và cả tương lai nữa.
          Chiến tranh kết thúc, Lynda trở về nhà. Chẳng bao lâu chị hiểu ra rằng cơn ác mộng chỉ mới bắt đầu. Bạn bè và gia đình chị sống trong thanh bình không thể hiểu được và không muốn biết tất cả những gì chị đã trải qua ở Việt Nam thời chiến tranh. Suốt mười mấy năm liền chị một mình vật lộn với địa ngục của mình, cho đến lúc nhận ra rằng còn vô số các cựu binh Việt Nam khác cũng như chị không bao giờ có thể quên được quá khứ... Và Lynda Van Devanter bắt đầu hành động: chị làm giám đốc tổ chức nữ cựu binh chiến tranh Việt Nam, tư vấn cho các cựu binh khác, đi nói chuyện thảo luận về chiến tranh khắp nước Mỹ, viết bài đăng báo, viết sách. Cuốn sách đầu tay của Lynda Van Devanter nhan đề Mọi điều chúng tôi đã trải (Evering We Had) có tiếng vang lớn, thuộc hàng sách bán chạy. Tác phẩm Về nhà trước buổi sáng (Home Before Morning, 1983) là cuốn sách thứ hai của chị (với sự cộng tác của Christophe Morgan). Báo Business Week đánh giá: "Câu chuyện của chị  đáng được coi trọng và đã đưa lại cái nhìn về một thế giới khác của nước Mỹ mà đến hiện giờ vẫn thường bị lờ đi". Dưới đây là lời nói đầu và chương vĩ thanh của tác phẩm này.


 

Lời nói đầu


         
Tôi bắt đầu cuốn sách này như một hình thức liệu pháp vào đầu năm 1979. Tôi hy vọng bằng cách nào đó xua đuổi được cuộc chiến Việt Nam ra khỏi tâm trí mình. Điều tôi học được trong những năm trở lại nhà, viết và sống lại nỗi đau của cuộc chiến ấy, là những cảm giác của tôi về cuộc chiến sẽ không bao giờ lùi xa. Tôi không muốn chúng lùi xa. Vì nếu tôi quên hoàn toàn, có thể tôi sẽ lại rất muốn thấy nó diễn lại. Tuy nhiên, tôi đã học được rằng không phải cuộc chiến sở hữu tôi, mà là tôi sở hữu nó.

          Khi cuốn sách viết xong, tôi muốn chia sẽ nó với những người khác. Chuyện kể ở đây là chuyện của riêng tôi, nhưng nhiều phụ nữ và đàn ông khác cùng có chung những kinh nghiệm như vậy cả trong và sau cuộc chiến. Tôi hy vọng làm cho họ biết rằng họ không phải đơn độc, rằng họ cũng có thể tìm được cách về nhà.

          Trong nhiều năm, tôi mong muốn được nói chuyện với gia đình của nhiều binh lính đã không sống sót trở về. Tôi muốn các bậc cha mẹ, con cái, anh chị em của họ biết được chúng tôi đã cố gắng cứu sống họ thế nào và chúng tôi đã đau khổ ra sao khi không thể làm được việc đó. Tôi muốn nói với Katie, và bố mẹ của Gene, rằng đã có người cầm tay anh ấy khi anh ấy nhắm mắt, và rằng bản thân tôi cũng đã khóc thương cho anh ấy trong nhiều năm ròng.

          Tôi đã không nói ra hết những điều đó. Nếu tôi cố làm thế, cuốn sách này sẽ không bao giờ kết thúc, và có nhiều điều của cái năm đó ở Việt Nam cũng như những năm dài sau này tôi không thể nhớ lại được. Trong những năm đầu trở về tôi phải cố quên, bây giờ muốn nhớ lại tôi phải vắt óc ra. Nhưng một khi nó quay trở lại, tôi sẽ học cách chung sống với nó.

          Trong hầu hết các lời nói đầu, tác giả đều muốn cám ơn những người đã giúp họ hoàn thành được cuốn sách. Tôi cũng có những người như vậy, nhưng hơn thế nữa, tôi còn có những người đã giúp tôi sống đến bây giờ. Trước hết là Bill Blackton. Giống như một bệnh nhân ung thư bị một tế bào ác tính lạ gặm nhấm, tôi đang bị tàn phá bởi một điều chưa biết thì tôi được gặp anh. Anh đã giúp tôi qua được thời kỳ xấu nhất của bệnh ung thư - thời hậu chiến. Tôi còn sống được là nhờ Bill, và tôi mãi mãi biết ơn anh. Ngoài ra, còn có một số người khác đã góp phần giúp tôi sống lại và trưởng thành. Người đầu tiên là Shad Meshad. Anh đã đi cùng tôi trên mảnh đất Việt Nam hồi tôi mới qua còn lạ nước lạ cái. Khi tôi khẽ gọi "quân y", anh lập tức có mặt ngay, làm mọi việc hết khả năng mình, tôi biết ơn anh.

          Tôi muốn tỏ lòng cám ơn sự ủng hộ và khuyến khích của gia đình tôi, đặc biệt là bố mẹ và chị Mary. Tôi biết họ đã phải đau khổ đến chừng nào khi có một đứa con, một đứa em trở về hoàn toàn thay đổi sau chỉ một năm ở Việt Nam. Một năm đó thật là dài.


Trở lại


         
Thời gian trôi qua, khi tôi đã thấm thía những gì Việt Nam đưa lại cho mình, tôi cảm thấy một ý muốn, không, một nhu cầu, trở lại nơi đã ghi đậm những ký ức đau đớn nhất và quan trọng nhất của đời tôi. Do sau chiến tranh Mỹ đã cắt đứt quan hệ với Việt Nam, nên cơ hội trở lại của tôi dường như rất mong manh. Nhưng tháng Năm 1982, tôi được chọn vào đoàn Cựu chiến binh Việt Nam của Mỹ sang Việt Nam. Đoàn chúng tôi gồm chín người, hầu hết là cựu chiến binh, và mang theo nhiệm vụ rất khác với hồi trước. Hồi đó chúng tôi đến gây chiến. Lần này chúng tôi đến trong hòa bình.

          Chúng tôi sẽ tiếp tục công việc đã được bắt đầu từ sáu tháng trước bởi Bobby Muller và ba thành viên khác của Ban giám đốc tổ chức Cựu chiến binh Việt Nam ở Mỹ (VVA). Họ đã đến Việt Nam dịp Giáng Sinh 1981 để cố khai thông cuộc đối thoại với người Việt Nam về vấn đề người Mỹ mất tích trong chiến tranh (MIA), tiếp tục thảo luận các vấn đề về chất độc màu da cam và vấn đề con lai Mỹ-Việt còn ở lại Việt Nam sau chiến tranh.

          Phía Việt Nam đã đồng ý hợp tác với VVA thúc đẩy việc giải quyết các vấn đề trên, và nhiệm vụ phái đoàn thứ hai của chúng tôi là tiếp tục công việc đó. Chuyến đi sẽ có rất nhiều việc phải làm, nhưng tôi cũng có cơ hội được thấy lại một số nơi đã gắn chặt với đời tôi.

          Trong mấy tuần trước khi đi, lúc chuẩn bị đồ đạc, nhận các thứ thuốc chống sốt rét và tiêm chủng ở phòng y tế (thay vì ở quân đội trước đây), tôi thường nhớ lại những cảm giác của mình khi đến Việt Nam lần trước. Lần này tôi cũng căng thẳng như lần đầu, nhưng vì những lý do khác nhau. Khi đó tôi đi đến một cái có thực và đáng sợ. Bây giờ tôi trở lại cái đã sống ở trong tôi suốt mười ba năm qua, một cái rất mơ hồ, không đụng chạm tới được, phi thực nhưng đồng thời lại rất thực. Biết nói thế nào về cảm giác đó? Tôi đã mơ thấy Việt Nam nhiều năm ròng. Giờ đây nó sẽ hiện ra thế nào? Tôi đã biết Việt Nam một năm trong chiến tranh và một năm ấy đã khuấy động dữ dội trong tôi nhiều năm trời sau đó. Liệu rốt cuộc tôi đã hòa giải được với nó chưa? Trong chừng mực nào đó, tôi sợ sự trở lại không giống như lần trước.

          Phụ trách phái đoàn chúng tôi gồm có Tom Bird, một cựu chiến binh, người sáng lập và là giám đốc Đoàn Văn Công Cựu Chiến Binh ở New York, và Greg Kane, một cựu chiến binh hải quân đóng tại Okinawa trong thời gian chiến tranh, thành viên Ban giám đốc VVA. Tom đã tham gia phái đoàn thứ nhất, nên ông phụ trách luôn đoàn thứ hai này. Trong đoàn, ngoài tôi ra, còn có Bob Holcomb, Scott Higgins, Dave Aldstadt, và Gary Beikirch, tất cả đều là cựu chiến binh Việt Nam. Thêm vào đó còn có Leslie Platt, cố vấn đặc biệt của VVA về chất độc da cam, và Joseph Papp, một nhà sản xuất nổi tiếng, người đã có mấy vở kịch viết về Việt Nam.

          Chúng tôi bay cùng nhau, lần này khởi hành từ New York, đi theo đường phía Đông thay vì đường Thái Bình Dương tôi đi hồi năm 1969. Đoàn lên đường ngày 25 tháng Năm, tất cả ngồi trên một chiếc xe tải đi từ Nhà hát Joe Papp ở hạ Manhattan tới thẳng sân bay JFK.

          Greg đóng vai người hướng dẫn, anh trao vé cho mỗi người khi cần, sau đó thu lại khi mọi người đã lên máy bay. Anh rất sợ có ai đó làm mất vé và đôi khi điều này khiến cho chuyến đi có vẻ như một chuyến dã ngoại của học sinh.

          Cuối cùng chúng tôi cất cánh vào khoảng 10 giờ tối, ở chặng bay đầu tôi ngồi chung ghế với một người đàn ông đứng tuổi là một bác sĩ phẫu thuật chỉnh hình nổi tiếng từ một hội nghị y học ở New York trở về Đức. Chúng tôi nói chuyện suốt đêm, tôi cảm thấy khó ngủ, qua câu chuyện tôi được biết vào năm cuối Thế chiến hai ông bác sĩ, khi đó mới mười bảy tuổi, đã bị bắt làm tù binh tại Pháp. Ông ta bị thương, bị bắt và được đội quân y Mỹ điều trị. Khi họ biết ông nói được tiếng Anh và ham thích nghề y, họ đã giữ ông lại bệnh viện trong suốt thời gian bị giam giữ. Tại đấy, ông ta làm việc như một phiên dịch và một nhân viên y tế. Trò chuyện với vị bác sĩ tôi thấy ông ta có một sự từng trải chín chắn qua thời bị bắt làm tù binh, và tôi nghĩ thật lạ lùng là bị rơi vào những hoàn cảnh như vậy mà con người vẫn có thể giữ được tinh thần tốt. Tôi không biết là mọi sự đã thay đổi ở Việt Nam, và khi tôi ngồi trò chuyện với người đàn ông này, người đã từng là kẻ thù của chúng ta, nay sang Mỹ giảng dạy và dự hội nghị về y học, tôi thầm mong mọi kẻ thù rồi sẽ đối xử với nhau như thế.

          Các chặng bay sau, tôi ngồi cạnh Scotty, và trừ những lúc ăn, ngủ, xem phim, còn suốt thời gian bay chúng tôi ghi chép. Tôi viết nhiều vào sổ tay và khi đi dọc theo chiếc máy bay đen thẫm lại để tìm về chỗ của mình, tôi nhận thấy Bob cũng làm vậy. Hai chúng tôi nói chuyện một lúc về nhu cầu muốn ghi lại mọi điều của chuyến đi này, Bob nói là anh thấy ai cũng đều ghi chép cả. Quả là dường như tất cả chúng tôi đều có nhu cầu này.

          Khi ngày và đêm thứ hai trôi qua, tôi bắt đầu nhớ lại sự bối rối của mình trong chuyến bay lần đầu tới Việt Nam mười ba năm về trước. Đơn giản là tôi không thể hình dung được ngày giờ chính xác, và khi Scotty cố giải thích tôi càng thấy mù mịt nên thôi không cố nhớ nữa. Lúc hạ cánh xuống Bangkok, may mắn là tôi đã biết được ngày giờ địa phương. Khi một nhân viên hàng không nói cho tôi biết điều đó, tôi mới nhận ra hôm nay là sinh nhật mình. Kỳ lạ sao, tôi lại có một lễ sinh nhật trên đường đến Việt Nam.

          Bangkok là việc tìm khách sạn, ngủ một giấc, ăn uống, đi mua sắm, lần này tôi mua một chiếc nhẫn cho mình và một đôi hoa tai ngọc lục bảo cho Mary giống hệt chiếc nhẫn tôi đã được chị ấy cho nhiều năm trước đây. Khuya đêm ấy chúng tôi ngồi ở nhà hàng khách sạn trò chuyện về những ngày sắp tới và những công việc phải làm. Đang lúc nói chuyện, chợt có ánh sáng từ phía sau lưng tôi dọi tới. Tôi quay lại vừa kịp thấy tất cả các nhân viên nhà hàng mang tới một chiếc bánh sinh nhật cho tôi với ba mươi lăm ngọn nến lung linh, họ đồng thanh hát bài "Chúc mừng sinh nhật". Tôi hoàn toàn ngạc nhiên và xúc động trước việc những người đàn ông trong đoàn nhớ đến ngày này của mình. Nếu không có giây phút này thì chắc sinh nhật năm nay của tôi cũng sẽ nhạt phai y như lần trước khi tôi ở Việt Nam.

          Trớ trêu thay, đêm ấy khi tôi đang mơ màng ngủ thì truyền hình khách sạn lại chiếu bộ phim Tin đồn chiến tranh nói về Việt Nam. Những cơn mơ của tôi đêm ấy trộn lẫn những ký ức về Việt Nam, cái dễ chịu, cái khó chịu, nhưng luôn luôn có một một câu hỏi không lời đáp: "Tại sao?".

          Ngày hôm sau chúng tôi trở ra sân bay để đi chặng cuối cùng của hành trình đến Việt Nam. Lần này chúng tôi đi theo Hàng Không Việt Nam. Khi đứng làm thủ tục tại quầy tôi lại thấy căng thẳng bèn lảng ra đi mua mấy thứ đồ kỷ niệm vặt, đột nhiên tôi cảm thấy mình khác lạ, cứ tự mình cười nói với mình; thậm chí đến cả tên của Bob tôi cũng không nhớ nổi. Joe đến bên tôi động viên rằng tôi là người duy nhất giữ được vẻ bình thường trong hoàn cảnh này. Điều đó không ngờ làm tôi bình tĩnh lại.

          Chuyến bay còn phải chờ lâu, khoảng hai giờ nữa máy bay mới cất cánh, khiến tôi càng thấy căng thẳng. Tôi chỉ muốn chuyến bay 832 của Hàng Không Việt Nam bay nhanh đi. Tôi đi dạo quanh ngắm nhìn các quầy hàng lưu niệm. Tôi mở sổ ra ghi chép. Tôi ghi âm lại các thông báo về chuyến bay. Tôi nói chuyện với Dave và Gary. Tôi bước lại gần màn hình tivi xem thông báo giờ bay. Sau đó tôi thấy mọi người xếp hàng tại cổng vào. Thật là đáng buồn. Tôi đã thậm chí không nghe thấy thông báo.

          Khi vào máy bay, một kiểu máy bay cũ hồi những năm 1950 chẳng hề được tân trang kể từ khi xuất xưởng, tôi vấp ngay phải ký ức về cái oi bức ở Việt Nam. Điều này xảy ra mặc dù họ đã cố gắng chuẩn bị cho chúng tôi. Chắc bên trong phải nóng đến 120 hoặc 130 độ, và tôi nhận thấy mồ hôi bắt đầu túa ra trên người, lúc đầu từ mọi chỗ bình thường, sau đó từ lưng bàn tay, cuối cùng từ các móng tay, tôi biết thế. Tôi đang trở lại Việt Nam.

          Trên chuyến bay khoảng hơn một giờ, người ta phục vụ chúng tôi những món ăn khác lạ, chủ yếu chế biến từ thịt lợn. Tôi đã lâu bỏ ăn thịt, nên chỉ dùng cơm để trên khay cho đến khi trong óc vụt hiện lên một cái bụng bị thương phơi ra lổn nhổn cơm và đầu cá thì tôi không nuốt được nữa, phải đẩy cái khay sang một bên. Cuối cùng Gary và tôi đã nhận thấy mảnh đất Việt Nam. Anh ta trước đây thuộc lực lượng quân y đặc biệt và cũng đã từng đóng quân tại vùng Tây Nguyên, hai chúng tôi là những người đầu tiên trông thấy những dãy núi hiện ra. Chúng tôi đưa mắt nhìn nhau, sau đó trở lại ngồi bên ô cửa sổ nhỏ và suốt quãng đường còn lại đắm chìm trong suy tư. Khi máy bay đáp xuống sân bay quốc tế Hà Nội, tôi nhớ lại lần đầu đến Việt Nam và cảm thấy thoải mái vì lần này được hạ cánh trong khung cảnh thanh bình nhẹ nhàng.

          Đón chúng tôi tại mặt đất là một nhóm khoảng nửa tá đàn ông Việt Nam ăn vận lịch sự kiểu thường phục. Có mấy người lính đứng rải rác quanh ga đến, tôi bỗng nhìn thấy lại ngôi sao vàng quen thuộc trên nền đỏ ở cổ áo và mũ của họ. Tommy chắc cũng giật mình tương tự khi thấy những hình ảnh đó trong chuyến đi trước, nhưng anh đã nhắc cho chúng tôi biết, nhờ đó mọi việc cũng dịu đi được một chút.

          Những người đàn ông dân sự kiêm luôn việc hướng dẫn và phiên dịch cho chúng tôi. Phần lớn họ đã quen Tommy lần trước nên cả đám tụm lại vui vẻ với nhau trong khi chúng tôi phải làm tờ khai hải quan. Một hồi ức khác lại dội về khi tôi điền vào tờ khai. Giấy ở đây là thứ bột gỗ cán ra, như hầu hết loại giấy chúng tôi thấy trong suốt cả chuyến đi, kể cả giấy vệ sinh. Nó cho thấy rõ ràng: đất nước này vẫn còn nghèo quá.

          Tôi đang viết bỗng giật mình bởi âm thanh của những chiếc Mig dội vang trên đầu. Tôi buông bút chạy ra ngoài xem chúng bay qua. Nó gợi tôi nhớ lại những chiếc máy bay tối tân của Mỹ thời chiến tranh, tôi đứng im tự hỏi đây có phải là sự biểu dương kiêu hãnh hay là một kiểu chào mừng khác lạ. Có khoảng sáu chiếc máy bay, chúng bay lượn ầm ào ba, bốn lần. Cuối cùng, tôi trở vào trong điền nốt tờ khai.

          Sau khi nhận được hành lý, chúng tôi đi ra dãy xe limousin màu đen do Nga chế tạo đang đậu trước ga đến và lên xe đi về Hà Nội.  Mặc dù trước đây tôi chưa từng đến Bắc Việt Nam, nhưng quang cảnh trông vẫn rất quen thuộc. Hai bên đường xe chạy là những ruộng lúa, đúng y như tôi vẫn nhớ chúng. Những người đàn ông, đàn bà mặc đồ đen, đội nón đang cắm cúi làm việc trên đồng. Suốt dọc đường chúng tôi nói chuyện rất ít, ai cũng chăm chú nhìn ngắm cảnh vật vừa quen vừa lạ hiện ra trong ánh chiều tà đang xuống. Xe đưa chúng tôi đi qua những làng mạc không khác gì những khu làng ở vùng Pleiku, và khi xe qua cầu Long Biên vào Hà Nội tôi lại bị choáng váng trước những vết tích chiến tranh để lại nơi đây. Đây là cây cầu duy nhất trong năm cây cầu bắc qua sông Hồng còn trụ vững sau nhiều đợt ném bom của máy bay B-52, vì vậy phải mất ít nhất nửa giờ mới qua được cầu, chen giữa dòng xe đạp và khách bộ hành lũ lượt trên làn đường hẹp.

          Khi về tới khách sạn Thắng Lợi, phần lớn chúng tôi đều mệt lử sau chuyến bay và chặng đường dài. Bây giờ sướng nhất là được ngủ một giấc, nhưng cả đoàn lại được mời đến Phủ Chủ tịch để gặp Ủy ban Việt Nam về MIA và chất độc da cam. Tôi nhận phòng ở rồi tranh thủ tắm táp một cái trước khi chạy xuống phòng đợi nhập đoàn cùng những người khác.

          Cuộc gặp diễn ra tại phòng tiếp tân chính của một tòa nhà cũ xây từ thời Pháp. Có việc giới thiệu các thành viên hai bên, và do tôi đã gắng công học tiếng Việt trước chuyến đi, nên đây là cơ hội đầu tiên cho tôi thực hành nó. Những người đàn ông trong đoàn Việt Nam tỏ ra thích thú thấy tôi nói được tiếng nước họ, chắc chắn họ hiểu rõ nó là thứ tiếng rất khó đối với  đa số người muốn học. Họ đánh giá cao những người nước ngoài cố công học tiếng Việt. Tôi đã nói tiếng Việt với hầu khắp mọi người tôi gặp trong chuyến đi này và lần nào cũng gây được những nụ cười thoải mái. Quả là không phí công học hành, luyện tập.

          Bữa tiệc chiêu đãi đoàn chúng tôi sau buổi tiếp vượt quá điều tôi mong đợi. Nó có bảy món, gồm các món cua và cá, món canh Việt Nam tuyệt vời mà tôi còn nhớ, món cơm muôn thuở, các thứ trái cây tráng miệng. Thức uống là một loại rượu ngọt Việt Nam và trà. Suốt bữa ăn tôi nói chuyện nhiều với những người đàn ông ngồi đối diện, xen giữa thứ tiếng Việt ngập ngừng của tôi và thứ tiếng Anh lưu loát của họ. Chúng tôi nói nhiều chuyện: những việc đã làm trong chiến tranh, những gì tôi nhớ được khi còn ở đây, sự vô nghĩa và tàn phá của chiến tranh, đời sống mỗi người hiện nay, gia đình và công việc. Tôi thấy mình giống như những con người mang tên Lưu, Khánh, Quang, Ngô Minh đó. Đối với tôi, họ đã thành những cá thể, chứ không còn phải là một tập hợp của chiến tranh.

          Chúng tôi quay về khách sạn Thắng Lợi khoảng 11 giờ đêm, lập tức tôi lao ngay lên chiếc giường hẹp thấp, quên cả buông màn. Sáng hôm sau tôi đã phải rủa mình về việc đó. Tôi thức giấc lúc 4 giờ đưa tay gãi những nốt bầm tím do những người bạn đói để lại, hy vọng là trong số đó không có con muỗi cái nào, vì muỗi cái đốt hay gây sốt rét, cùng lúc tôi thấy trời đã rạng. Tôi quyết định ra ngoài. Tôi vùng dậy đánh răng, tập thể dục, rồi xỏ đôi giày thể thao chạy ra ngoài một quãng. Dù tôi mong là chỉ có một mình trên đường, nhưng lập tức tôi nhớ lại buổi đầu ngày ở Việt Nam là thế nào. Trên những ngả đường bụi bậm đầy người đi làm việc, ra đồng, ra chợ. Đây là lần đầu tiên tôi biết nơi đây có những người dân tuổi trung niên. Trong chiến tranh tôi chưa hề thấy một người nào không còn trẻ hay rất già, bây giờ thì họ đây. Hoặc có thể đó là những người còn trẻ hồi tôi đến lần trước nay đã có cơ may sống được đến tuổi trung niên. Dẫu sao, cái là tôi bây giờ, đã phải nhiều năm sau mới có.

          Mọi người nhìn tôi mặc quần soóc, giày thể thao, áo ngắn có hàng chữ tiếng Anh đang chạy trên đường. Tôi mỉm cười với tất cả và lần nào cũng nhận được những nụ cười đáp lại. Tôi kinh ngạc. Họ vẫn là những con người như hồi trước tôi đến đây, nhưng nay tôi không còn phải lo ngại là phía sau nụ cười của họ có ẩn dao găm hay lựu đạn. Chúng ta không còn sống trong chiến tranh và tôi được an toàn. Đây là một điều phát hiện đối với tôi. Tôi dừng lại mấy lần nói chuyện với mọi người bên các cổng làng và tại các quầy bán hoa quả, thuốc lá và đồ lặt vặt khác. Tôi chào họ bằng tiếng Việt. Cháo, Ông. Cháo, Bà. Cháo, Bác. Bác manh gioi không? Tèn tôi là Lynda. (Tác giả viết bằng tiếng Việt trong nguyên bản - ND).

          Họ đáp lại tôi bằng những nụ cười và lời lẽ nồng nhiệt. Họ hỏi tôi từ đâu tới, và khi tôi nói mình là người Mỹ, câu chuyện của họ vẫn rất thân thiện. Tôi chờ đợi điều ngược lại, có thể xảy ra mọi điều chỉ trừ sự hữu hảo, nhưng đã không hề có chuyện đó. Hình như họ vui thích khi thấy tôi. Có lẽ đấy là do tôi là một phụ nữ Mỹ, chứ không phải một gã đàn ông có thể đã từng cầm súng tìm cách tàn phá họ trong chiến tranh, nhưng khi Les và Dave ra ngoài vào cuối ngày hôm ấy, hai người vẫn được đón tiếp như vậy.

          Tôi không biết thế nghĩa là gì. Tôi chờ đợi họ căm thù tôi, vậy mà đâu đâu tôi cũng gặp tình thân thiện. Tôi hiện thân cho cuộc chiến tranh vừa mới gần đây mà họ là nạn nhân, nhưng họ lại như yêu thích tôi.

          Tôi trở về khách sạn, tắm rửa, sau đó xuống phòng đợi để cùng cả nhóm đi đến cuộc gặp đầu tiên trong tuần - gặp bàn vấn đề MIA. Tom, Greg, Scotty, Bob, Gary, Joe và tôi được dẫn lên những chiếc xe con cùng một loại như chiếc tối qua đã đưa chúng tôi tới. Dọc đường xe phải liên tục bóp còi và len lách qua dòng người đi bộ và xe đạp trong một khung cảnh mà tôi luôn coi là của cánh lái xe Italia. Các tài xế của chúng tôi hình như chỉ sử dụng hai bộ phận của xe là cần tăng tốc và cái còi. Chúng tôi đi ngang qua Lăng Hồ Chí Minh và tôi nhớ lại nỗi kinh hoàng mình đã trải qua khi nghe tin ông mất. Giờ đây tôi chỉ ước muốn một điều là được vào viếng vị lãnh tụ này, người đã có ảnh hưởng rất mạnh đến cuộc đời của tôi và của những người tôi từng biết trong chiến tranh.

          Cuộc gặp kéo dài. Mở đầu là dành cho báo chí: đoàn 60 phút quay phim, các phóng viên của hãng AP và tờ New York thời báo đặt câu hỏi. Khi họ rời đi, chúng tôi ngồi xuống bàn công việc. Tom bảo tôi ghi chép cuộc gặp và tôi thấy mình đã ghi rất dữ dội. Ơn Chúa, họ đã có mọi thứ dịch rồi. Tôi không biết tốc ký nên đã tạo ra một cách ghi riêng của mình. Thời gian để dịch cho phép tôi ghi lại hầu hết mọi điều trên giấy. Phía Việt Nam nêu ra những khó khăn trong việc tìm kiếm thi hài binh lính chúng ta. Khi họ nói về rừng rậm ba tầng, nóng bức. ẩm ướt, côn trùng, thú dữ, tôi nhớ lại tất cả những cái đó đã từng tác động đến mình như thế nào hồi ở Pleiku, và tôi bắt đầu hiểu quả thật họ gặp rất nhiều khó khăn trong việc tìm kiếm MIA. Dân cư ở các làng mạc sẽ phối hợp cùng tìm, và tôi nghĩ cảm giác họ sẽ thế nào trong lúc đi tìm hài cốt lính Mỹ khi mà hàng trăm nghìn thân nhân của họ vẫn còn mất tích bởi chiến tranh.

          Trong thời gian ở Hà Nội, chúng tôi rất bận. Ngày nào cả đoàn cũng phải đến những cuộc gặp bàn về MIA, chất độc da cam, trẻ em lai và trao đổi văn hóa. Tôi đã đến thăm Bảo tàng lịch sử, Bảo tàng các thành tựu khoa học và công nghệ, và Nhạc viện Hà Nội. Tôi đã xem nghệ thuật và lịch sử, đã nghe âm nhạc, từ đó tôi bắt đầu có ý niệm về những con người mà tôi chưa bao giờ hiểu này. Trước đây lúc còn chiến tranh không có dịp đến các bảo tàng lịch sử, tôi không hề biết dân tộc họ suốt bao thế kỷ đã phải đương đầu với chiến tranh. Mỹ chỉ là nước sau cùng trong chuỗi dài các nước đã tìm cách  gây chiến để áp bức dân tộc này trong suốt mấy nghìn năm qua.

          Tôi bắt đầu có cảm nhận về con người và đất nước này, điều mà trước đây không thể có được. Chiến tranh đã phá hủy quá nhiều thứ, và một trong những việc đầu tiên phải làm là phải có khả năng nhìn kẻ thù như những con người có lịch sử và tương lai. Nếu anh làm được thế, thì sẽ không còn có thể tàn phá được họ và xứ sở của họ. Muốn giết một ai đó anh phải  hủy hoại nhân cách nó, và đấy là cái mà chiến tranh đã mang lại cho tất cả chúng ta. Giờ đây rốt cuộc chúng ta đã có cơ hội để nhìn nhau như những con người. Đấy là một bước tiến quan trọng đối với tôi.

          Trước khi rời đi Thành phố Hồ Chí Minh (Sài Gòn cũ) chúng tôi đã dự các cuộc gặp của Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Cơ Thạch và Thứ trưởng Ngoại giao Hà Văn Lâu. Cả hai cuộc gặp để lại cho chúng tôi cảm giác rất tốt về những cơ hội có thể giải quyết theo cách nhân đạo các vấn đề được đặt ra. Nhưng hơn thế nữa, tôi lại thấy tình hữu nghị thân thiện toát ra từ hai con người này. Nguyễn Cơ Thạch là một ông già vui vẻ ngay từ đầu, ông đi phải chống gậy và bàn chân trái buộc băng. Tôi nói với ông bằng tiếng Việt, và chúng tôi được biết ông bị gãy bàn chân trong lúc tập chạy. Nghe thế tôi bảo ông tôi cũng là một người tập chạy và thế là giữa hai chúng tôi có cuộc trò chuyện dài về môn thể thao này như hai vận động viên thực thụ. Những chủ đề quen thuộc của môn chạy như khoảng cách từng ngày, các sự cố đầu gối, các bài tập co giãn, giày tập... choán phần chính cuộc trò chuyện, và tôi lại thấy mình hiểu ra rằng đây cũng là những con người giống y như chúng ta vậy thôi.

          Như để cho tôi ngạc nhiên hơn về thái độ thân thiện mà ông Thạch đã bày tỏ trước đó, chiều tối hôm ấy ông Hà Văn Lâu nói với chúng tôi niềm tin rằng họ có các cựu chiến binh Mỹ cũng là các nạn nhân như họ. Họ không thích gì chính quyền Mỹ, nhưng họ hiểu rằng có sự khác nhau giữa các chiến binh và chiến tranh. Luôn luôn tôi học thêm được một điều mới mẻ.

          Sáng thứ hai chúng tôi rời Hà Nội đi Thành phố Hồ Chí Minh cảm thấy như chia tay những người bạn. Anh Quang vẫn cùng đi để phiên dịch cho đoàn, nhưng thế vẫn không khỏa lấp được nỗi buồn thật sự khi phải chia tay những người bạn mới quen khác.

          Chuyến bay dọc đất nước được đánh dấu bằng việc tất cả chúng tôi đều dán mắt để tóm bắt lấy những nơi chốn quen thuộc. Khi bay qua trên khu vực DMZ ( khu phi quân sự) tôi những tưởng sẽ trông thấy một bức tường lớn hay hàng cọc tiêu. Thay vào đó chỉ có phong cảnh nhạt nhòa. Chúng tôi bay qua khu vực Phú Bài, nơi tôi đến thăm Jack, bay qua An Khê. Máy bay vọt qua các vùng Quy Nhơn và Pleiku, nhưng tôi có cảm giác mình đã chạm được tay vào chúng từ trên cao này.

          Khi sắp hạ cánh xuống sân bay Tân Sơn Nhất, tôi lại trở nên rất căng thẳng. Bắp thịt rã rời, bụng cồn cào, tôi nhìn ra cửa sổ cố thu lấy toàn bộ cảnh vật cho mãi mãi. Mọi thứ quanh sân bay trông đều quen thuộc, tòa nhà ga đến, những cái móc ngụy trang, các dãy hàng rào và các tháp canh. Tôi rời Việt Nam từ chính sân bay này và cho đến tận giờ đây tôi vẫn còn nhớ hầu như mọi thứ của nó và cái ngày cuối cùng của tôi ở Việt Nam.

          Máy bay tiếp đất nhẹ nhàng, ô tô đã ra đón chở vào, nhưng tôi vẫn cố bám lấy chỗ ngồi. Tôi không tài nào có thể đứng lên được. Hồi ức đang trỗi dậy trong tôi khi trông thấy lại chốn này. Sau khi mọi người đã xuống hết, tôi mới đứng lên thu dọn đồ đạc và bước xuống thang máy bay để chạm vào Việt Nam của tôi. Hà Nội là quan trọng, nhưng đây là nơi tôi đã sống một phần đời mình. Tôi đứng lặng mấy phút trên đường băng, quay nhìn bốn hướng. Vâng, kia vẫn là những tháp canh, kia nữa là mấy chiếc máy bay quân sự sơn màu ngụy trang. Tôi thấy lại nhiều cái tôi đã biết, nhưng cái quen thuộc hơn là những cảm xúc ở trong tôi. Tôi nhớ lại mọi việc của cái ngày khủng khiếp cuối cùng ở đây. Tôi đi về phía cổng ra, biết chính xác mình đang đi về đâu. Một phần con người tôi muốn bám chặt vào chỗ mình đang đứng, phần khác thì kéo tôi đi, đẩy tôi về lại vùng ký ức.

          Tôi đi qua cánh cửa tự động mà tôi đã từng qua gần mười hai năm về trước. Khu vực cổng ra vẫn thế, nhưng có vài thứ đã mất đi. Bằng đôi mắt tâm tưởng tôi thấy mười hai hoặc nhiều hơn những chiếc ghế dài bày ở đây, những lính Mỹ ngồi trên đó, mắt âu sầu sự đời. Ba lô ngổn ngang khắp nơi. Áo chống đạn và mũ sắt vương vãi trên sàn. Thông báo chuyến bay phát liên tục.

          Nhưng bây giờ tất cả những cái đó đã qua rồi. Căn phòng mở toang và trống trải. Các dãy ghế đã bỏ đi. Duy chỉ còn những bản thông báo phát bằng tiếng Việt. Tôi tiến lại một chỗ chắc trước đây đặt ghế và cúi xuống sờ vào những cái lỗ chôn chân ghế trên sàn. Cái gì đã xảy ra với chúng, tôi tự hỏi? Thực cứ như chỉ mới hôm qua.

          Tôi quay người bước lại bên cửa sổ, nơi từ đó tôi đã đứng nhìn ra nhiều năm về trước. Cảm giác sợ hãi lại ào đến. Tôi lại cảm thấy mối buồn kỳ quặc, nỗi sợ mọi người Việt Nam quanh mình, ham muốn được về nhà, và sự sợ sệt ăn sâu trong lòng rằng mình sẽ không bao giờ sống sót rời khỏi được đây. "Việt Nam hút hết", tôi nghĩ. "Sức hút khủng khiếp đến mức nó có thể hút anh từ trời xuống. Nó hút cạn tâm trí, linh hồn anh và anh không thể nào lấy lại được chúng".

          Tôi ngạc nhiên thấy nước mắt rơi xuống đôi cánh tay mình đang khoanh lại. Lập tức tôi hiểu ra đây không phải là mười hai năm về trước mà là hiện tại. Lần này tôi đã gặp và biết những người Việt nam, họ cũng là những con người như tôi, gia đình tôi và bạn bè tôi. Tôi không phải sợ ai nữa cả. Nước mắt lần này là để tẩy rửa cho tôi, khuây khỏa cho tôi lần cuối. Qua hết rồi. Chiến tranh đã qua đối với tôi.

          Khi tôi đứng một mình rung người khóc lặng lẽ, Colin Campbell, phóng viên tờ Thời báo New York, đến bên và đặt tay lên vai tôi. "Chị không sao chứ, Lynda? Tôi giúp gì được chị không?", anh ta hỏi.

          "Không sao, Colin ạ", tôi đáp. "Lần này là điều tốt. Tôi cần điều đó xảy ra. Tôi vừa thấy rõ đấy không phải là Việt Nam hút cạn, mà đấy là chiến tranh. Tôi muốn trở lại đây để tìm kiếm cái tôi đã để lại, và tôi vừa tìm thấy nó xong. Đó là tuổi trẻ của tôi, sự ngây thơ của tôi. Bây giờ tôi biết rằng tôi không bao giờ có thể có lại chúng được nữa, nhưng tôi đã sờ thấy chúng, thế là được rồi. Tôi biết chúng đã trôi về đâu. Thậm chí tôi nghĩ là tôi biết chúng đã hóa thành gì. Điều đó thật buồn khủng khiếp". Nói rồi tôi gục đầu vào vai anh ta để mặc cho dòng nước mắt cuốn trôi đi cuộc chiến.

          Đây là Ngày Tưởng Niệm. Đợi cho khi tắt mặt trời ở Việt Nam, mọc mặt trời ở Mỹ, chín chúng tôi tập trung lại trong vườn. Lặng lẽ, không định trước, chúng tôi khoanh chân ngồi thành một vòng tròn trên cỏ trong một bầu không khí oi bức, ẩm ướt và đầy muỗi. Hồi ức của chúng tôi về môi trường chiến tranh là như vậy.

          Tôi chọn một cành mận, những bông hoa có mùi thơm hắc và vẻ đẹp giản dị. Chúng tôi đặt nó vào giữa vòng tròn và giữ yên lặng. Tất cả nắm tay nhau và Gary bắt đầu lên tiếng, những lời nói nhẹ nhàng êm ái của một bộ trưởng. Nghe lời cầu nguyện của anh ấy, chúng tôi nhớ lại các bạn bè đã ngã xuống; 57.000 người đã bỏ mạng tại đây, hàng trăm nghìn người đã đổ máu cho cuộc chiến, hàng triệu anh chị em đã chiến đấu nơi này.

          Người ta có thể đến gần xem chúng tôi suy nghĩ gì, cảm thấy gì. Tất cả đều cúi nhìn xuống cỏ, nhìn cành mận, nhìn bầu trời xanh, nhưng mỗi người thấy những trái tim người khác trong bản thân mình.

          Tôi đưa tay với cành hoa, ngắt một bông cho mình, rồi chuyển nó cho Dave, anh cũng ngắt một bông, cứ thế cành hoa được chuyền tay theo vòng tròn đến Joe, anh ngắt bông cuối cùng và chuyển nó lại cho tôi. Tôi nhẹ nhàng đặt cành hoa đã bị ngắt trụi vào giữa và Gary yêu cầu cả nhóm lặng im cầu nguyện.

          Giọng nói của sự im lặng này có thể nghe thấy trong giọt không khí ẩm đọng trên lá cây, trong tiếng gió nhẹ xạc xào bên tai, trong tiếng thạch sùng tắc lưỡi dưới bụi cây, trong tiếng hót con chim đang bay. Tôi nghĩ tới Steve, Gene, Sharon Lane, tới rất nhiều người đã đi qua cuộc đời tôi ở đây. Chúng tôi gửi lời cầu nguyện tới các chiến binh ở thiên đường, cầu cho họ bằng an yên nghỉ, chúng tôi cầu nguyện cho cả và thế gian. Đây là lời nguyện cầu của những người đã biết cái giá đắt của chiến tranh và biết sâu sắc ý nghĩa của hòa bình và tự do. Bầu không khí im lặng của chúng tôi được giữ trọn vẹn, giống như vòng người ngồi theo hình tròn.

          Một cái nhìn chia sẻ khắp lượt mọi người và chúng tôi thức khỏi cơn mê man hồi tưởng. Gary trịnh trọng cất lên lời nguyện cầu chân thành của anh ấy và của chúng tôi đối với tất cả các anh chị em chiến binh, những người còn sống hay đã ngã xuống. Và chúng tôi cũng cầu nguyện sự thanh bình cho chính mình nữa.

          Vầng mặt trời cho chúng tôi trong Ngày Tưởng Niệm năm 1982 đã lặn. Một Ngày Tưởng Niệm khác cho chúng tôi, ở Việt Nam.


Ngân Xuyên

dịch từ nguyên bản tiếng Anh
Trackback URL: http://www.vnweblogs.com/trackback.php?id=150916

Thêm góp ý
(http://tenban.vnweblogs.com)
 authimage (Hãy nhập dãy số này vào ô bên cạnh)