Sign up
« Trước | Sau»
Anh Sừ của tôi
phamxuannguyen | 29 May, 2008, 10:43 | Phạm Xuân Nguyên phê bình, nghiên cứu | (264 Reads)


Anh Sừ đã có được niềm vui lớn nhất cuộc đời mình – anh đã chọn một nghề và đi trọn cái nghề đó với cả lòng thành tâm, thành kính và thành thực của mình. Và anh đã có cho mình một sự nghiệp, để sống, với mọi vui buồn, vinh nhục của nghề.



1. Tôi nhớ lần đầu tiên gặp anh tại nhà riêng ở Hà Nội. Hồi đó, anh đang phụ trách Ban văn học Việt Nam hiện đại của Viện Văn học, nhà ở khu tập thể Thành Công. Gặp anh lần đầu, tôi ngạc nhiên một cách thành thực. Dáng điệu, cung cách của anh thân mật, giản dị, thoải mái như một người dân quê. Khi tôi vào nhà, anh đang ngồi trò chuyện cùng nhà văn Hoàng Tiến, tác giả tiểu thuyết Hà Nội của tôi. Hai người, một nhà nghiên cứu và một nhà văn, bất ngờ “kiểm tra” trình độ ngoại ngữ của tôi, bằng cái từ “suspendu” trên tờ báo tiếng Pháp đang đặt trước mặt tôi, tôi nhớ như là tờ Les Nouvelles de Moscou thì phải. Sau này, nghiệm ra, cái từ ấy đeo đẳng anh, tôi cũng vướng phải nó, và ông nhà văn kia cũng không thoát. Ngẫu nhiên chăng? Hay số phận? Có lần anh nói vui: anh với tôi “nợ” nhiều hơn “duyên”. Đã mấy lần “tai nạn” đường văn, anh và tôi cùng chung gánh, của anh tôi có dự phần, của tôi anh đưa vai chịu. Cùng chất Nghệ, nhưng nhiều lúc anh cũng không chịu nổi tôi. Tôi biết, anh (cả chị nữa, nhà nghiên cứu văn học thiếu nhi, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Vân Thanh) yêu quý tôi rất mực, và bực với tôi hết nói. Trên đường đời, anh chị là anh chị của tôi. Nhưng lòng tốt, tình thương của anh của chị, lắm lúc, làm khổ cả anh chị. Trong cuộc sống, và trong khoa học.

2. Thuở học trò phổ thông, năm 1972 ác liệt chiến tranh, tôi đã được đọc cuốn sách đầu tay của Phong Lê, chuyên khảo Mấy vấn đề văn xuôi Việt Nam hiện đại. Thời buổi bom rơi đạn nổ mà cuốn sách, lại là sách nghiên cứu, in thật đẹp, giấy trắng, láng. Thật mà nói, cuốn sách đã lần đầu tiên cho tôi cái nhìn bao quát, tổng thể về nền văn xuôi hiện thực xã hội chủ nghĩa từ 1945 cho đến lúc đó, đặc biệt là các bảng tra cứu ở cuối sách về tác giả tác phẩm, mà đặc biệt nữa là những tác phẩm gọi là “có vấn đề” vẫn được kể ra, in chữ ngả. Trước đấy, tôi chỉ đọc các bài lẻ, cuốn sách của Phong Lê là cuốn chuyên khảo thứ nhất tôi có trong tay. Từ cái nhìn ban đầu này, tôi có vốn để đi. Về sau, anh còn viết cuốn Văn xuôi Việt Nam trên con đường hiện thực xã hội chủ nghĩa, nhưng tôi thích cuốn trước của anh hơn. Theo tôi, bỏ qua những điểm cứng nhắc, ấu trĩ trong quan niệm nghiên cứu của một thời đã qua, mà tác giả đương nhiên không tránh khỏi, và có lẽ hồi ấy cũng chưa biết để tránh, cuốn sách đó đến nay vẫn giữ được một ưu điểm, một giá trị: phác họa được sự vận động, sự chuyển mình của văn xuôi Việt Nam hiện đại ở một hướng đi của nó. Cuốn sách đầu tay khi tác giả ở tuổi 34 - một nhà nghiên cứu trẻ. Tôi nay ngoài tuổi 40, chưa một cuốn sách ra riêng, ngẫm so với thế hệ đàn anh thấy thua cái sự chăm chỉ, cần mẫn.

3. Tôi vừa nói một sự khó tránh của anh, của một thế hệ, hay hơn một, trong nghiên cứu và phê bình văn học. Anh, cũng như các đồng nghiệp khác cùng lứa tuổi, bước vào nghề ở một giai đoạn lịch sử mà xét trên phương diện nghiên cứu văn học tôi gọi là giai đoạn “nghiên cứu có tính chính trị”, hoặc nói theo cách nói quen thuộc: nghiên cứu phục vụ chính trị. Không mấy ai dám đi ra ngoài quỹ đạo này, và thực tế, không có ai đi chệch quỹ đạo, thời ấy, ngay cả những người về sau sẽ bứt mình ra khỏi nó. Cố nhiên những bất cập, hạn chế của cái thời đó rồi sẽ được anh ý thức và vượt thoát về sau này. Ý thức và vượt thoát một cách hăng hái, nhiệt thành, đôi lúc ào ạt đến thành chủ quan, cả tin, một đặc điểm dễ thấy ở anh khi yêu khi ghét.

4. Tôi nhớ, anh là một người say. Không bia, không rượu, các đợt đi công tác cùng anh, tôi thường là người chịu trận thay anh trong các cuộc nhậu. (Có lần hăng lên, lợi dụng tình thân với anh, và cũng để tránh cho anh một sự bắt ép vào một cuộc “trăm phần trăm” ở miền Tây Nam Bộ, tôi lớn tiếng: Anh có thể có các thứ văn hóa, nhưng anh không có “văn hóa nhậu”. Sau, ngẫm lại, tôi thấy mình thật quả lếu láo, quá trớn với anh. Được cái, anh hiểu tôi, không chấp, không giận). Không lang thang, ngẫu hứng bất tử, như phần đông đám trẻ, như một số đám già. Anh chỉ có, tôi dám nói đời anh chỉ có, một cái say - say nghiệp viết. Vâng, tôi phải dùng từ say, để nói lên được sự đam mê, gắn bó với cái nghề mình đã chọn, cái nghiệp mình đã theo đuổi, đến như thành một basic instinct, ở nhà nghiên cứu phê bình văn học Phong Lê. Viết ở nhà, đã đành. Hễ bước chân ra khỏi nhà, dù là đi gần, đến cơ quan Viện Văn học, đến một cuộc họp, một hội nghị nào đấy, dù là đi xa giảng bài ở Vinh, Huế, Đà Nẵng, Sài Gòn, Cần Thơ, trong cặp xách, trong túi hành lý của Phong Lê, nặng nhất, nhiều nhất, và quan trọng nhất, là các thứ bản thảo. Đến nơi, đặt cặp xuống, rút giấy ra, anh viết. Cả trên những chặng hành trình dài, khi đang là một khách lữ thứ xuôi ngược, anh cũng mải mê viết: viết trên tàu hỏa xuôi Nam ngược Bắc, viết trên máy bay đi Âu về á sang Mỹ. Cả những lúc bị bệnh tật quật ngã, buộc phải vào bệnh viện, nhập viện xong là anh lôi giấy bút ra, tức khắc biến giường bệnh thành một nơi làm việc thứ hai. Có khi nhờ viết anh quên đi được những dày vò bệnh tật, do đó, khỏe nhanh. Cái viết của anh, như con người anh, ào ạt, thắm thiết. Hay như câu nói của nhà tự nhiên học và nhà văn Pháp G. Buffon anh thích, đã gợi ý cho anh đặt tên một, rồi hai tập sách tiểu luận của mình: “Le style, c’est l’homme”. Anh viết nhiều, và in cũng nhiều, các đầu sách riêng tính dễ đã đến con số trên 15, cộng cả các đầu sách chung mà anh là chủ biên thì lên đến ngót bốn chục cuốn. Gần hai chục năm qua thành đồng nghiệp của anh, hai anh em chung một cơ quan, cuốn sách nào ra anh cũng đều tặng tôi, nhưng tôi chưa có lấy một bài viết cho anh. Nói ra điều này, tôi chắc, lắm người lấy làm lạ, khi biết mối giao tình giữa hai anh em. Anh không tỏ ý gì, chỉ đôi lần bảo: nhưng rồi ông phải viết về tôi một bài. Tôi biết: tôi sẽ viết về anh một bài.

5. Viết, ở Phong Lê, là một quá trình thường trực, là một hành động liên tục. Mà người chịu viết là người chịu nghĩ. Và người chịu nghĩ thường khi phải có can đảm đập vỡ mình ra, làm lại mình, do đó, phải có can đảm chịu trận. Thêm nữa, người dám nghĩ cũng phải là người dám nói, nói ra những điều mình nghĩ. “Người không dám nói những điều mình nghĩ thì cũng không dám nghĩ những điều mình nói”, điều này không phải ai cũng làm được. Thời đổi mới, Phong Lê là một trong những nhà nghiên cứu phê bình dám trở lại mình, tích cực đấu tranh cho một sự đổi mới sâu sắc, triệt để, cụ thể của văn học, cả về lý luận, cả về văn học sử. Đặc biệt là văn học sử, khi với tư cách nhà nghiên cứu chuyên ngành, và ở cương vị Viện trưởng Viện Văn học những năm cao trào đổi mới, anh đã góp nhiều công sức và trí lực cho việc nhìn nhận lại đúng hơn, sâu hơn, sát hơn một loạt tác gia hàng đầu của văn học Việt Nam hiện đại: Tản Đà, Ngô Tất Tố, Vũ Trọng Phụng, Thạch Lam, Nam Cao, Nguyễn Huy Tưởng, Hải Triều, Hoài Thanh... Cũng chính trên cương vị Tổng biên tập Tạp chí Văn học, anh đã nâng cao chất lượng của tờ tạp chí, khởi từ việc trích đăng hồi ký của nhà thơ Tú Mỡ nói về nhóm Tự lực văn đoàn cuối năm 1988, cho đến việc đăng một chùm bài nghiên cứu về một cây bút đang làm sôi nổi dư luận lúc này - là Nguyễn Huy Thiệp. Có thể thấy, tờ tạp chí của Viện, rộng ra, của cả giới nghiên cứu, thời Phong Lê, áp sát đời sống văn học, bắt nhạy những đổi thay của lý luận và phê bình đương đại, góp được tiếng nói vào dư luận văn chương. Tôi nói điều này như một khẳng định, và tôi chắc, được khẳng định. Đây là giai đoạn tôi gọi là “nghiên cứu có tính chính luận”, khi - sau một thời gian dài đi theo một định hướng có nhiều trói buộc, nay được cởi trói người ta có dịp nhìn lại các giá trị và thấy nhu cầu bức xúc phải đấu tranh “chiêu tuyết”, phục hồi cho một số không nhỏ các tác giả, tác phẩm làm nên diện mạo văn học Việt Nam hiện đại, rộng hơn là diện mạo lịch sử văn học Việt Nam. Tôi biết, hiện lúc ấy và cả về sau này, có những người vẫn e ngại và khó hiểu sự đổi mới của anh. Nhưng, sự thực là thế. Nói theo Bertolt Brecht: Chủ nghĩa cộng sản là một việc đơn giản mà khó làm.

6. Tôi nhớ, lời tự bạch trong cuốn sách tổng kê hội viên Hội Nhà văn Việt Nam anh mượn một câu châm ngôn Pháp: “Le silence, c’est d’or”. Gần đây anh hay trách tôi là còn ham xuất đầu lộ diện, thích phơi mặt ra giữa vùng sáng, mà chưa đủ độ chiêm nghiệm từng trải để biết lánh mình, khuất mình vào vùng tối, biết lặng trong những khoảng dài để bùng vỡ ở những khoảnh khắc. Anh không nhắc, tôi đã biết mình hư, mình hỏng. Anh nhắc, tôi càng thấm thía. Nhất là khi được đọc, mới đây, những lời anh tự nhắc anh “về sự cần thiết phải tự lượng sức, tránh cái ham hố đưa duyên với mọi người, bao sân thảy mọi thứ, chen vai với tất cả trước một đời sống văn học quả rất bộn bề, nhiều giọng điệu và thường gây tranh cãi như hiện nay. Tự lượng không phải để né tránh, mà là để cân nhắc, biết mình nên làm gì và có thể làm được đến đâu. Và theo lẽ tự nhiên là để có thể lùi lại, lấy cái nhìn lịch sử soi vào hiện tại”. Abutalip theo lời dẫn của Raxun Gamzatov nói: “Người ta cần hai năm để học nói, và cần sáu mươi năm để học cách im lặng”. Anh bây giờ đã ngoại lục tuần. Những trang viết gần đây của anh về tình cảm ông bà và các cháu nội ngoại, một kiểu “L’art d’être grand père” (V. Hugo), thấm thía xúc động về lẽ đời tình đời cho tôi hiểu anh hơn. Đọc lần đầu, tôi bảo: anh kể chuyện gia đình mà như viết nghiên cứu. Anh cười: ừ thì bốn chục năm viết lối đó, “rằng quen mất nết đi rồi”... Nhưng đọc lại mấy lần, tôi thấy mình đúng là thằng bộp chộp, xốc nổi. Những suy nghiệm về văn chương là gì nếu không phải là những suy nghiệm về cuộc đời, về con người, về mọi lẽ nhân sinh quanh ta, và trong ta. Tôi đọc được ở các trang nghiên cứu anh viết về sau này thêm phần sâu nặng lẽ đời.

7. Đề tài hiện nay Phong Lê tập trung đi sâu là quá trình hiện đại hóa văn học Việt Nam thế kỷ XX đặt trong bối cảnh duy tân, đổi mới đất nước, với những biến thiên thăng trầm lịch sử suốt một trăm năm qua, và trong sự thách thức của xu thế toàn cầu hóa trước thềm thiên niên kỷ mới. Anh hào hứng đọc, hào hứng viết - viết nghiên cứu, viết báo, viết các nhận xét luận án sau đại học (mỗi nhận xét, tùy từng luận án, vẫn bộc lộ được một số ý tưởng của người phản biện, và là một dịp chúng được đưa ra trước một cử tọa chọn lọc, đặc biệt), viết các tham luận khoa học. Điều khiến anh trăn trở muốn tìm hiểu, hơn thế, muốn lý giải, là các cơ hội cho văn chương, và đất nước đi lên con đường hiện đại đã bị bỏ qua như thế nào, và các cơ hội sắp tới ra sao, bằng cách nào nắm bắt được và thực hiện được. Trên chiều hướng này, khi chủ trì một đề tài nghiên cứu thuộc một Chương trình Khoa học xã hội cấp Nhà nước, anh đã chấp nhận đề xuất của tôi tìm hiểu văn học công khai miền Nam giai đoạn 1954-1975, và mở rộng ra văn học Việt Nam hải ngoại sau 1975. Sóng gió đã nổi lên đây đó quanh chuyện này, nhưng hướng đi khoa học là phải thế, anh kiên định và tiếp tục công việc của mình. Sự vững vàng của anh cho tôi thêm tin tưởng vào mình. Đôi lúc, công lao của người mở đường chính là ở sự mở đường. Giai đoạn này là giai đoạn “nghiên cứu có tính lịch sử”, anh gắng công nhiều, trang viết nhiều, bài viết nhiều, nhưng tôi vẫn còn thèm đọc được ở anh những nghiên cứu chiều sâu hơn là chiều rộng. Vấn đề là tìm ra quy luật và chiều hướng vận động của lịch sử văn học nước nhà thế kỷ XX, chỉ ra những lực đẩy và lực cản tiến trình văn học, khẳng định các giá trị. Tôi biết anh cũng đang mong điều đó.

8. Dạo này anh Sừ của tôi, Giáo sư Phong Lê, hay vắng mặt ở Hà Nội, anh có những chuyến đi dài ngày, thường là “Nam chinh”, đến với các đồng nghiệp và học trò. Vẫn như thường lệ, hành lý chủ yếu của anh là bản thảo, những tập giấy dày đặc những dòng chữ viết tay, đầy các ký hiệu gạch xóa, như những nẻo đi trong một cánh rừng rậm rạp, như những nếp nhăn trên trán. Những ý tưởng vật vã anh, và anh vật vã với những ý tưởng. Sau một chuyến đi như vậy trở về, anh đưa tôi bài viết mới Chuyện nghề năm 2000. Ba con số không sau một con số chỉ thiên kỷ thứ ba của lịch sử nhân loại xui gợi bao điều ngẫm nghĩ tiên lượng. Với anh, sau 40 năm cầm bút làm nghề, đây là điều “thức ngộ” trước dòng trôi thời gian: “Có một chút buồn cho nghề trong sự quạnh quẽ, và cả sự bạc bẽo của nghề; nhưng mặt khác, có một cái nghề cho mình ham thích và theo đuổi lại là một niềm vui và hạnh phúc, như một sự bù đắp - ít nhiều. Biết bao lao động âm thầm vẫn cứ diễn ra quanh ta theo một sự phân công tự nguyện của cuộc sống; và trong sự mài miệt đến lầm lũi đó, tôi chợt hiểu một điều đơn giản: theo đuổi để có một sự nhiệp là cực khó, nhưng cho nó một diện mạo khiêm nhường, không cần khua chuông gõ mõ, thậm chí như là vô danh, tựa như nhiều bậc thầy đã quá cố, còn khó hơn gấp nhiều lần”. Tôi hiểu, anh đã bắt đầu thấu lẽ hư vô tự nhiên.

9. Đầu năm 2000, anh bảo tôi: năm nay, tròn 40 năm vào nghề, mình định sẽ ra một tập sách mới. Tôi chợt nảy ý: hay anh tập hợp 40 bài của 40 năm làm thành một tập, vừa để mình nhìn lại mình, vừa để bạn đọc có một diện mạo tương đối của Phong Lê? Anh gật đầu, nhưng im lặng. Còn tôi nghĩ: 40 năm liên tục viết nghiên cứu, phê bình, chọn 40 bài theo mốc từng năm, và nếu bỏ các mốc thời gian đi, 40 bài ấy lưu lại được gì của Phong Lê - nhà nghiên cứu, phê bình văn học? Nhưng thôi, nếu chưa viết được, hoặc còn chờ để viết, khi sách ấy ra, thì hãy viết trước bài này. Phong Lê, anh Sừ của tôi. Tình anh em, tình đồng nghiệp anh đã dành cho tôi từ 20 năm trước, khi anh đã vào nghề hơn hai chục năm, còn tôi đang là anh sinh viên dở dang đi lính. Nhật ký quân ngũ của tôi đề ngày thứ hai, 26/1/1981, có đoạn: “Trong thư A. có kèm theo một mảnh thư nhỏ của anh Phong Lê - Trưởng Ban văn học hiện đại của Viện, nơi A. làm việc - gửi cho mình. Đọc mấy dòng viết vội của một người anh đi trước, của một người chưa quen biết nhưng có chung một tấm lòng chân thành và say mê văn học, mình thấy được khích lệ và động viên thêm hơn. Những dòng thư của anh Phong Lê giúp mình củng cố thêm được niềm tin vào con đường mình đã chọn, vào bước đường hiện tại mình đang đi “Tháng năm, thời gian sẽ không có chút nào trống rỗng nếu mình biết khai thác, tận dụng nó - học, đọc, nghe, nhìn, tiếp xúc, ghi chép, quan sát... bao giờ cũng làm giàu thêm cho mình, dẫu cuộc sống, thời gian có vẻ như mòn lặp, vô vị đến mấy đi nữa”. Phải, giữa bao nhiêu sự của đời trước mắt, đừng nên để bị cuốn chìm vào những cái nhỏ nhặt, tầm thường mà quên mất cái đích lớn mình đã chọn. Cám ơn A., cám ơn anh Phong Lê đã đến với mình trong những lúc như thế này”.

10. Chín phiên khúc ở trên về anh Sừ của tôi được viết trong khoảng giao thời hai thế kỷ và hai thiên niên kỷ. Thấm thoắt đã gần mười năm nữa trôi qua. Thời gian, hay cái con người quy ước gọi là ngày tháng năm, cứ vô tình đi qua những cuộc đời, những phận người. Con người đặt định ra những quy ước để rồi vướng mắc vào đó, giãy giụa, không tìm được lối thoát. “Từ khi có đồng hồ con người thêm lật đật / Từ khi biết xem lịch cuộc đời như ngắn đi” (Võ Hồng). Nhưng mọi đơn vị được đặt ra là để tính đếm. Và như thế, đếm trên dòng thời gian, năm Mậu Tý 2008 này anh Sừ của tôi lên bảy mươi. Tôi đã theo thói quen đánh chữ “lên lão” nhưng vội xóa đi ngay. Thứ nhất, vì ở thời nay cái tuổi thất thập đã không còn xưa nay hiếm như thời Đỗ Phủ. Thứ hai, vì anh Sừ chưa lão, chưa già. Thứ ba vì...

Nguyễn Công Trứ, ông Thượng Trứ ngất ngưởng giữa triều đình nhà Nguyễn ấy, ông Uy Viễn tướng công lừng danh đất Lam Hồng ấy, ông “được mất dương dương người thái thượng / khen chê phơi phới ngọn đông phong” ấy, mà anh Sừ, và tôi, và bao người khác được dự hàng vinh dự là người đồng châu đồng quận cùng ông, Nguyễn Công Trứ khi lên tuổi bảy mươi đang giữ chức Thừa Thiên phủ doãn đã cáo lão về hưu và làm một bài thơ tự họa có một câu ý muốn rũ bỏ hết mọi sự thế gian thăng trầm, vinh nhục, về chốn non Hồng nằm khểnh mà chơi, gác mọi sự đời ngoài tai. Ngông đệ Cao Bá Quát họa lại bài của ngông huynh Nguyễn Công Trứ chốt bằng hai câu : “Văn đạo Hồng phong dục hồi thủ / Khởi ưng lục thập cửu niên phi!” (Nghe nói ông muốn quay về ngọn núi Hồng / Có lẽ nào sáu mươi chín năm qua đều là sai cả!). Xược thật, Cao ngông sĩ! Nhưng đọc cả bài họa của họ Cao thì thấy đấy là một cách tôn trọng, tôn vinh một cuộc đời, một nhân cách, một sự nghiệp của họ Nguyễn.

Anh Sừ đã có được niềm vui lớn nhất cuộc đời mình – anh đã chọn một nghề và đi trọn cái nghề đó với cả lòng thành tâm, thành kính và thành thực của mình. Và anh đã có cho mình một sự nghiệp, để sống, với mọi vui buồn, vinh nhục của nghề. Orhan Pamuk nhà văn Thổ Nhĩ Kỳ, Nobel văn chương 2006, viết: “Để nghệ thuật không trở thành nhàm chán, cần phải biến nó thành một sự nghiệp”. Nghề đã cho anh gì? Niềm vui sống trên trang sách, qua trang sách. Nghề đã lấy đi của anh gì? Một cuộc đời. Đối với một con người, đó đã là hạnh phúc. Đối với anh Sừ của tôi, đó thực sự là hạnh phúc. Vì chúng ta là những người bình thường, sống những cuộc đời bình thường, và biết rằng mọi thứ “rồi cũng thành vô nghĩa trước ngày mai”. Vậy thì sống trọn hiện tại đã là một may mắn lớn, một hạnh phúc lớn.

Anh Sừ sinh năm 1938, Mậu Dần. Tinh tướng Hổ ở anh có lẽ ẩn hết vào câu chữ, và lộ ra ở cách nói năng, ở những lúc hăng lên phát biểu. Thật tình, nhìn anh không thấy có tướng hổ. Cả tính cách anh cũng vậy, ít nhất là trong mắt tôi nhìn. Nhìn ngoài anh như một nông phu. Người nông phu Lê Phong Sừ cần mẫn cày xới trên cánh đồng chữ nghĩa, mà mùa màng ở người nghiên cứu, phê bình nhiều khi là thất bát, là trắng tay. Đọc bao trang sách, viết bao câu chữ,  vật lộn bao ý nghĩ, dày vò bao cảm xúc, nhưng để lại được một luận điểm khoa học, một tư tưởng học thuật, một phương pháp phân tích có tác động đến tư duy nghiên cứu của đương thời, hoặc xa hơn là của các thời sau, thật hiếm hoi và ít ỏi người làm được. “Đành lòng vậy, cầm lòng vậy”, những người đã chọn cái nghề này, đã biến nghề thành nghiệp của mình. Tôi chắc anh Sừ của tôi ý thức rất rõ điều đó, và càng kinh lịch trường đời trường văn anh chắc càng thấy ra cái hữu hạn và bất lực giữa khả năng, ước muốn và hiện thực. Nhưng chính thế, lao động nghề nghiệp của anh càng đáng trân trọng. Ở đây tôi nhớ tới một câu nhạc Trịnh: “Sống trong đời sống cần có một tấm lòng, để làm gì em biết không, để gió cuốn đi...”. Tất cả mọi sự đều rồi là để gió cuốn đi, cả lòng tốt nữa, nhưng không vì vậy mà không sống làm người tốt, tử tế, trong đời và trong công việc. Các học trò của anh Sừ nhớ thầy Phong Lê trước hết, và sau hết, là ở tấm lòng của một con người như thế. Một người tốt.

“Thất thập nhi tùng tâm sở dục, bất du củ”, thầy Khổng đã nói vậy. “Bảy mươi tuổi, trong tâm ta dầu có muốn sự gì cũng chẳng hề sái phép” (lời dịch Đoàn Trung Còn). Con người hiện đại chừng như khó được như các cụ nho xưa, hay làm được như các cụ nho xưa là không dễ. Câu thầy Khổng ý muốn nói cái tự do bên trong, cái an nhiên tự tại của tâm người, khi đã đi qua lần lượt những thập niên cột mốc cuộc đời. Bước vào thập niên thứ bảy này của đời mình, anh Sừ của tôi có lẽ vẫn đang nhiều “tùng tâm sở dục”, ấy là tôi muốn nói những dự định việc làm của anh trước trang sách và trên trang giấy. Mừng cho anh, tuổi bảy mươi, còn nhiều sức lực và tình cảm cho công việc, cho cuộc sống.

Và tôi vẫn còn nợ anh, những thập niên sống, anh Sừ của tôi.



 
Hà Nội 2000 -2008   
Trackback URL: http://www.vnweblogs.com/trackback.php?id=70731

Thêm góp ý
(http://tenban.vnweblogs.com)
 authimage (Hãy nhập dãy số này vào ô bên cạnh)